VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HƯNG BÌNH

b¶o vÖ quyÒn vµ lîi Ých hîp ph¸p
cña ng•êi ch•a thµnh niªn theo ph¸p luËt
tè tông h×nh sù viÖt nam

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HƯNG BÌNH

b¶o vÖ quyÒn vµ lîi Ých hîp ph¸p
cña ng•êi ch•a thµnh niªn theo ph¸p luËt
tè tông h×nh sù viÖt nam
Chuyên ngành : Luật Hình sự
Mã số

: 62.38.40.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS, TSKH ĐÀO TRÍ ÚC

HÀ NỘI - 2013

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản
thân, được xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc để hình
thành hướng nghiên cứu. Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân
thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận án được thu
thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng được ai
công bố trước đây.
Hà Nội, tháng 9 năm 2013
Tác giả

Trần Hưng Bình

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong luận án
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

9

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

9

1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

9

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

15

1.1.3. Đánh giá

19

1.2. MỘT SỐ NỘI DUNG CẦN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT TRONG LUẬN
ÁN
1.3. CÁC CÂU HỎI ĐẶT RA KHI NGHIÊN CỨU

21

1.4. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

23

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

25

22

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1. KHÁI NIỆM

27
27

2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của người chưa thành niên

27

2.1.2. Khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên

35

2.1.3. Khái niệm Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành
niên trong tố tụng hình sự Việt Nam

46

2.2. CÁC PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP
PHÁP CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG

60

2.2.1. Xây dựng thể chế tố tụng hình sự

60

2.2.2. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng

61

2.2.3. Bảo vệ thông qua các thiết chế gia đình và xã hội

63

2.3. KINH NGHIỆM BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA
MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

63

2.3.1. Khái quát về một số phương thức bảo vệ người chưa thành niên
trong tố tụng hình sự trên thế giới

63

2.3.2. Một số mô hình Tòa án chuyên trách người chưa thành niên trên
thế giới
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

68
71

Chương 3: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

73

3.1. CÁC QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH
HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

73

3.1.1. Trong việc thực hiện quy định những điều cần chứng minh trong
điều tra, truy tố, xét xử vụ án người chưa thành niên phạm tội (Điều
302 BLTTHS)

73

3.1.2. Trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên

79

3.1.3. Trong việc tham gia tố tụng của luật sư, người bào chữa

82

3.1.4. Việc thực hiện quy định bảo đảm quyền riêng tư của người chưa
thành niên trong quá trình xét xử

88

3.2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN
TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH
SỰ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

89

3.2.1. Nhận thức hạn chế về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người chưa thành niên trong tố tụng hình sự ở các cơ quan/người
tiến hành tố tụng

90

3.2.2. Về năng lực cán bộ tiến hành tố tụng trong giải quyết vụ án hình sự
liên quan đến người chưa thành niên

93

3.2.3. Việc đảm bảo cơ sở vật chất cho tổ chức hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng trong giải quyết các vụ án liên quan đến người
chưa thành niên còn hạn chế

96

3.3. THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TỪ PHÍA GIA ĐÌNH - XÃ HỘI

99

3.3.1. Về phía gia đình

99

3.3.2. Về phía nhà trường, tổ chức
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

102
104

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM BẢO VỆ CÓ HIỆU QUẢ QUYỀN
VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH
NIÊN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

106

4.1. XU HƯỚNG QUỐC TẾ VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP
PHÁP

106

4.1.1. Xu hướng quốc tế

106

4.1.2. Quan điểm cuả Đảng, Nhà Nước về bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự

107

4.2. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM BẢO VỆ HIỆU QUẢ QUYỀN
VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
THEO
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

110

4.2.1. Giải pháp về tăng cường thể chế

110

4.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng

132

4.2.3. Nhóm giải pháp về tăng cường hiệu quả các thiết chế gia đình, xã
hội
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

139

KẾT LUẬN

147

145

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

152

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

BLHS

:

Bộ luật Hình sự

BLTTHS :

Bộ luật Tố tụng hình sự

CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

CQĐT

:

Cơ quan điều tra

CƯQTE :

Công ước quyền trẻ em

ĐTV

:

Điều tra viên

HTND

:

Hội thẩm nhân dân

KSV

:

Kiểm sát viên

NCTN

:

Người chưa thành niên

NCTNPT :
TAND

Người chưa thành niên phạm tội

: Tòa án nhân dân

TANDTC :
cao TTHS

Tòa án nhân dân tối
:

Tố tụng hình sự

TTLT

:

Thông tư liên tịch

VAHS

:

Vụ án hình sự

VKSND

:

Viện Kiểm sát nhân dân

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài
người, là một trong những giá trị tinh thần quý báu và cao cả nhất của nền văn
minh nhân loại trong thời đại hiện nay. Quyền con người bao gồm những
quyền không thể tước bỏ, do đó, bảo vệ quyền con người chính là những bảo
đảm pháp lý

về bảo vệ quyền con người cũng như thực tiễn bảo đảm quyền con người, như
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chỉ rõ: “Con
người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển.
Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi
ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” [31, tr.76]; “Nhà
nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo
hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người” [31, tr.85]. Báo cáo chính trị
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) tại Đại hội lần thứ XI của
Đảng khẳng định: “Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền,
lợi ích chính đáng của mọi người dân” [31, tr.247]. Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 2011 - 2020 cũng nhấn mạnh: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa
nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu
của sự phát triển”; “Phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các
điều kiện để mọi người được phát triển toàn diện” [31, tr.100].
Đối tượng người chưa thành niên (nói chung) và trẻ em (nói riêng), bộ
phận chiếm tỷ lệ khá lớn, là những chủ thể đặc biệt (có những đặc điểm riêng
về tâm sinh lý và sự phát triển), do chưa biết cách tự bảo vệ mình khi đứng
trước những sự kiện pháp lý (là những tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra
trong

2

đời sống có liên quan với sự xuất hiện, thay đổi và chấm dứt các quan hệ pháp
luật) có liên quan, nên cần phải có những bảo đảm pháp lý đầy đủ, cần thiết và
đáp ứng phù hợp. Nhận thức được tầm quan trọng này, trong những năm qua,
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm thúc đẩy
việc bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên. Việt Nam là quốc gia thứ 2 trên
thế giới ký Công ước về quyền trẻ em. Việt Nam cũng đã xây dựng được một
hệ thống pháp luật khá đầy đủ tạo căn cứ pháp lý quan trọng cho các cơ quan
bảo vệ pháp luật để bảo vệ trẻ em nói chung và người chưa thành niên trong
các vụ án hình sự nói riêng.
Liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự, trong thời gian qua, NCTNPT
đang có xu hướng gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm của hành vi (theo
VKSND tối cao "tỷ lệ tội phạm vị thành niên bị VKSND truy tố đã tăng lên;
tỷ lệ tăng bình quân 10% hàng năm"). Do đó, khi phải đối mặt với những sự
kiện pháp lý như đã nêu, NCTN cần một sự bảo đảm vững chắc và hữu hiệu từ
phía những quy định của pháp luật TTHS. Yêu cầu này đòi hỏi, bên cạnh các
biện pháp nhằm bảo đảm và bảo vệ NCTN trong xã hội, thì Nhà nước, các cơ
quan tiến hành tố tụng cần có những điều chỉnh kịp thời, thích hợp (về chính
sách hình sự cũng như thủ tục tố tụng) dành cho đối tượng này để bảo đảm
quyền, lợi ích chính đáng của họ khi tham gia tố tụng. Điều này không ngoài
mục đích bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự; phù hợp với xu thế
nhân đạo hóa của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự trong nhà nước pháp
quyền.
Hiện tại Việt Nam chưa có hệ thống tư pháp dành riêng cho NCTN theo
đúng ý nghĩa của thuật ngữ này. Về thể chế, chúng ta mới chỉ có Chương
XXXII (từ Điều 301 đến Điều 310) BLTTHS quy định về thủ tục tố tụng đối
với NCTN. Tuy nhiên, các quy định này chưa đủ chi tiết, cụ thể để các cán bộ
tiến hành tố tụng bảo đảm hệ thống được vận hành phù hợp với các chuẩn mực
quốc tế. Do đó, trên thực tế, như nhận định của của Bộ Chính trị tại Nghị quyết
số 08/NQ- TƯ ngày 02/01/2001: Công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm
với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm,
làm oan người

3

vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin
của nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp. Điều này đồng
nghĩa với việc quyền, lợi ích của con người (trong đó có thể có NCTN) chưa
thực sự được bảo vệ.
Chính vì vậy, tác giả chọn việc nghiên cứu đề tài Luận án "Bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam" với mong muốn có những đóng góp không chỉ cho
việc bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của NCTN mà còn thực hiện
thắng lợi công cuộc cải cách tư pháp, góp phần xây dựng thành công nhà nước
pháp quyền XHCN.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích tổng quan: Luận án giải quyết toàn diện, đầy đủ sâu sắc và
có hệ thống những vấn đề lý luận về quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
trong tố tụng hình sự; thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật và thực
tiễn hoạt động tố tụng hình sự liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người chưa thành niên và đề ra các giải pháp. Kết quả nghiên cứu
sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; nâng cao nhận thức
của các chủ thể tiến hành tố tụng, cũng như toàn xã hội trong việc bảo vệ tốt
hơn quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
- Mục tiêu cụ thể:
Hướng tới việc hoàn thiện hệ thống tư pháp trong việc bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của NCTN. Chỉ ra những yêu cầu của việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của NCTN trong điều kiện xây dựng xã hội công bằng, tất
cả vì giá trị của con người; theo đó:
+ Đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật thực
định
trong lĩnh vực tư pháp hình sự bảo vệ quyền của NCTN tại Việt
Nam;
+ Đề xuất những giải pháp hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự bảo vệ
quyền của NCTN của Việt Nam và các thiết chế gia đình - xã hội bảo đảm
khác.

4

2.2. Nhiệm vụ
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể, đề tài hướng tới
các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ hệ thống quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong
pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam;
Hai là, làm rõ những quy định và yêu cầu của pháp luật tư pháp hình sự
Quốc tế trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN;
Ba là, chỉ ra những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật
TTHS Việt Nam trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, cũng như
những tồn tại trong thực tiễn áp dụng của hệ thống tư pháp hình sự trong việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
Bốn là, kiến giải hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật thực
định và hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng đặc thù nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của NCTN.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Căn cứ trên mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, đối tượng mà đề tài Luận án
tập trung nghiên cứu là những vấn đề sau:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam trong lĩnh
vực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người chưa thành niên;
Nếu căn cứ quy định của pháp luật Việt Nam, khái niệm “người chưa
thành niên” hoàn toàn khác với “trẻ em”. Mặc dù còn nhiều quan điểm khác
nhau, nhưng trong Luận án, tác giả nghiên cứu về “người chưa thành niên” là
người dưới 18 tuổi, do độ tuổi này phù hợp với quy định chung về “trẻ em”
theo pháp luật quốc tế (Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội
đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989), đồng thời, độ tuổi này cũng
được yêu cầu bảo vệ khá phổ biến trong các văn kiện pháp luật quốc tế. Do đó,
khi nghiên cứu các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chuẩn
mực

5

quốc tế, thuật ngữ “trẻ em” nhằm chỉ nhóm đối tượng tất cả những người dưới
18 tuổi, hoàn toàn phù hợp với đối tượng NCTN mà tác giả nghiên cứu trong
luận án.
Khi xem xét đánh giá đối với hệ thống pháp luật TTHS Việt Nam, mặc
dù tên Đề tài chỉ phạm vi “theo pháp luật TTHS Việt Nam” nhưng do pháp
luật TTHS là luật hình thức, việc nghiên cứu không thể toàn diện nếu không
gắn với việc nghiên cứu các quy định của luật nội dung - pháp luật Hình sự.
Do đó, trong Luận án, tác giả sẽ nghiên cứu các quy định của cả hai Bộ luật
này để làm rõ các quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN.
Thứ hai, nghiên cứu về cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
NCTN tham gia trong TTHS với các tư cách chủ thể khác nhau như
người phạm tội, người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan... Tuy nhiên, do TTHS thực chất là mối quan hệ quyền lực, trong đó
bên có quyền lực áp dụng các biện pháp cưỡng chế là Nhà nước mà đại diện là
các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người
bị tình nghi, bị can, bị cáo là những người thuộc phía yếu thế (do trong quan
hệ này, quyền lực nhằm vào họ, họ phải đối mặt với cả bộ máy các cơ quan
nhà nước buộc tội họ với đội ngũ cán bộ được trả lương và cung cấp các
trang bị cần thiết, có các kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức
pháp luật, người bị buộc tội có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn và khó có
khả năng bình đẳng với bên buộc tội trong việc chứng minh, thu thập chứng
cứ và trình bày chứng cứ; không dễ dàng gì trong việc sử dụng quyền tiếp cận
công lý như thuê luật sư, tìm và hiểu các quy định của pháp luật, các thủ tục tố
tụng). Mặt khác, do những đặc điểm riêng biệt về tâm sinh lý, nhận thức của
lứa tuổi, nên đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật, nguy cơ bị các
cơ quan tiến hành tố tụng/người tiến hành tố tụng xâm phạm đến quyền và lợi
ích hợp pháp của họ là có biểu hiện rõ rệt nhất trong suốt quá trình tiến
hành tố tụng. Do đó,

6

trong phạm vi nghiên cứu của Đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu về nhóm đối
tượng NCTN phạm tội, và trong Luận án, tác giả sử dụng cụm từ NCTN trong
quá trình phân tích các thủ tục TTHS chính là nói đến nhóm chủ thể này.
Mặt khác, theo pháp luật TTHS Việt Nam, TTHS gồm các giai đoạn:
Điều tra - Truy tố - Xét xử - Thi hành án. Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm
thi hành án không phải là một khâu trong chuỗi các hoạt động tố tụng hình sự
mà cần phải tách ra thành một hệ thống pháp luật, ngành khoa học nghiên cứu
riêng và do giai đoạn Thi hành án đã được điều chỉnh chi tiết bằng Luật Thi
hành án hình sự, nên trong Luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về quyền
và lợi ích hợp pháp của NCTN phạm tội trong ba giai đoạn: Điều tra, Truy
tố và Xét xử sơ thẩm.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian:
+ Quốc tế: Đặc điểm của quyền con người là có tính phổ biến (cái
chung), tuy nhiên quyền của NCTN lại có tính đặc thù (cái riêng). Do đó,
phạm vi nghiên cứu trước hết là quyền của NCTN nói chung trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội trên phạm vi quốc tế, được ghi nhận trong hệ thống
pháp luật quốc tế như các công ước, điều ước quốc tế. Trong phạm vi này, tác
giả sẽ phân tích nội dung, tính chất, đặc điểm các quyền của NCTN trong Tư
pháp hình sự quốc tế; những biện pháp, cơ chế bảo vệ các quyền này. Những
nghiên cứu này sẽ làm cơ sở để so sánh, đánh giá pháp luật, thực tiễn Việt
Nam trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
+ Việt Nam: tác giả nghiên cứu về quyền và lợi ích hợp pháp của
NCTN trong phạm vi các quy định của Việt Nam, bao gồm: các quan điểm
của Đảng, Nhà nước về vấn đề quyền con người, quyền của NCTN, quyền và
lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS; về vai trò, nhiệm vụ bảo vệ quyền
con người (trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN) của pháp luật
TTHS trong nhà nước pháp quyền…; những quy định của PLHS và TTHS về
vấn đề bảo vệ

7

quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, cũng như các vướng mắc, tồn tại trong
thực tiễn áp dụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng khi giải quyết các
vụ án liên quan đến NCTN.
- Phạm vi về thời gian: Việc nghiên cứu được tác giả phạm vi trong mốc
thời gian từ thời điểm có hiệu lực của BLTHS 2003 (ngày 1/7/2004) đến thời
điểm hiện tại.
4. Ý nghĩa và các đóng góp mới của luận án
4.1. Ý nghĩa
- Ý nghĩa về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án làm giàu thêm lý
luận về quyền của NCTN nói chung và quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
trong tố tụng hình sự nói riêng. Góp phần luận giải tính phổ biến và tính đặc
thù của quyền con người, đó là: đồng thời với việc coi quyền con người là giá
trị được thừa nhận chung, thì nó cũng được cụ thể hóa trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội (như tố tụng hình sự), với từng đối tượng cụ thể (người chưa
thành niên) và ở từng quốc gia (Việt Nam).
- Ý nghĩa về thực tiễn: Thực tiễn công tác tư pháp hình sự của chúng ta
trong thời gian qua cho thấy, quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong
TTHS vẫn chưa được bảo vệ tốt nhất. Điều này xuất phát từ việc xã hội, nhà
nước nói chung và các nhân viên tư pháp hình sự chưa đánh giá đúng tầm quan
trọng của vấn đề bảo vệ quyền của NCTN trong TTHS. Với việc đưa ra nhận
thức đầy đủ, toàn diện, có hệ thống lý luận về quyền của NCTN trong TTHS
và phân tích thực trạng của vấn đề này sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật
TTHS, đem đến sự nhận thức đúng đắn đối với các cơ quan tiến hành tố tụng
nhằm mục đích cuối cùng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong
thực tế.
4.2. Những đóng góp mới của luận án
Với phương pháp tiếp cận hiện đại, phương pháp tiếp cận liên ngành
khoa học xã hội: Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội phạm học, Nạn nhân
học, Xã hội học, Giáo dục học, Tâm lí học… tác giả mong muốn trên cơ sở
luận giải

8

những vấn đề lý luận và thực tiễn cần thiết, Luận án sẽ đưa ra những giải pháp,
kiến nghị có giá trị thực tiễn cao nhằm hoàn thiện thể chế, thiết chế (các cơ
quan tiến hành tố tụng) cũng như các thiết chế gia đình - xã hội, bao gồm:
Thứ nhất, nghiên cứu, đề xuất một số khái niệm về " Quyền và lợi ích
hợp pháp của NCTN theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam" và "Bảo vệ
Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN theo pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam";
Thứ hai, đánh giá đầy đủ, hoàn chỉnh qua đó làm rõ những bất cập,
thiếu sót, vướng mắc đối với các quy định của BLTTHS 2003 trong việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN cũng như thực tiễn áp dụng;
Thứ ba, nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng bổ sung những quy định thể
chế; thiết chế TTHS; gia đình - xã hội đặc thù cho NCTN nhằm tăng cường
hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN vi phạm pháp luật.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
Chương 3: Thực trạng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa
thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 4: Các giải pháp nhằm bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp
pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

9

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Quyền con người (nói chung) và quyền của NCTN là một trong những
vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong suốt các giai đoạn
phát triển của lịch sử nhân loại. Trong luận án này, khi nghiên cứu vấn đề bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, tác giả sẽ tập trung xem xét trong
khoa học pháp lý Quốc tế và Việt Nam: vấn đề này đã được đặt ra từ khi nào?
ở đâu?
đã
? Đây chính là cơ sở cho việc đưa ra những kết
quả nghiên cứu mới trong lĩnh vực này.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trước tiên, phải kể đến Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (ngày
26/08/1789) được các nhà cách mạng Pháp công bố, đánh dấu sự phát triển lên
một bậc thang mới của quyền con người. Tuy nhiên, thành tựu quan trọng cho
sự phát triển quyền con người đó chính là sự ra đời của Tuyên ngôn thế giới về
quyền con người (UDHR) - được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày
10/12/1948, tại Palaisde Chaillot, Paris, Pháp. Ngày 16/12/1966, Liên Hợp
Quốc thông qua hai Công ước quốc tế về quyền con người, là Công ước về các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) và Công ước về các quyền dân sự,
chính trị (ICCPR). Có thể khẳng định, đây là ba văn kiện quốc tế quan trọng
đặt nền tảng cho khung pháp luật quốc tế về quyền con người.
Về vấn đề bảo vệ quyền NCTN (trẻ em) bằng tư pháp hình sự, ngoài ba
văn kiện nêu trên, Liên Hợp Quốc đã thông qua một loạt các văn bản như sau:
Quy tắc tiêu chuẩn tối thiếu của Liên Hợp Quốc về quản lý tư pháp đối với
NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) 1985; Quy tắc của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa
NCTN bị tước quyền tự do, 1990; Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng
ngừa phạm pháp của NCTN (Hướng dẫn Riyadh), 1990; Tuyên bố về
các

10

nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi của trẻ em,
đặc biệt là việc bảo trợ và nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài, 1986;
Hướng dẫn về hành động đối với trẻ em trong Hệ thống luật hình sự, phụ lục
của Nghị quyết số 1997/30 của Hội đồng kinh tế và xã hội về việc quản lý tư
pháp với NCTN (ICCPR, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày
16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 23/3/1976).
Lĩnh vực bảo vệ quyền của NCTN nói chung và bảo vệ quyền của
NCTN liên quan tới tư pháp hình sự nói riêng đã có một số công trình nghiên
cứu tiêu biểu sau:
- Cuốn sách: "American juvenle Justice" (Tư pháp NCTN của Hợp
chủng quốc Hoa Kỳ) là công trình của Franklin E.Jimring được Oxford
University xuất bản năm 2005. Tác giả đã đề cập đến các giai đoạn phát triển
của tư pháp NCTN, đặc biệt là sự hình thành và phát triển của tòa án NCTN ở
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ qua các giai đoạn lịch sử. Với 4 phần chính, bao
gồm: Trẻ em phạm tội: Thực trạng và quan điểm pháp luật, thành lập tư pháp
NCTN Hợp chủng quốc Hoa kỳ, bảo vệ NCTN phạm tội và các vấn đề chính
sách trong tư pháp NCTN hiện đại. Với 193 trang viết, tác giả đã xuyên suốt
quá trình hình thành hệ thống tư pháp NCTN ở Mỹ; đặc biệt đã đi sâu vào
phân tích các quan điểm khác nhau về tư pháp NCTN, nhất là những quan
điểm đối lập. Trên cơ sở các quan điểm, tác giả lý giải nguyên nhân của sự
cần thiết thiết lập tòa án NCTN, sự xử lý chuyển hướng đối với tội phạm
NCTN,... Trên cơ sở này tác giả đã xem xét vấn đề tư pháp NCTN trên góc
nhìn đối chiếu giữa lý thuyết và thực tiễn, từ đó đặt ra những đòi hỏi phải hoàn
thiện tư pháp NCTN trên cơ sở cân bằng lợi ích của xã hội, người giám hộ và
NCTN.
- Cuốn sách "Child protect in America: Past, Present and Future, John"
(Bảo vệ trẻ em ở Mỹ: Quá khứ, hiện tại và tương lai) do E. B, Myers thực hiện
được Oxford University xuất bản năm 2006. Trong cuốn sách tác giả tập trung
vào đối tượng nghiên cứu là trẻ em bị lạm dụng và bị bỏ rơi, trên cơ sở đó tìm

11

kiếm những giải pháp làm giảm tình trạng trẻ em bị lạm dụng, bị xao nhãng
trong xã hội Mỹ thông qua việc đề xuất các biện pháp cải cách hệ thống bảo vệ
trẻ em. Với hai mục đích trên, tác giả đã chia cuốn sách thành hai phần, cụ thể:
Phần 1 tập trung vào việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển hệ thống
pháp luật bảo vệ trẻ em tại Mỹ; Phần 2, tập trung phân tích những nguyên
nhân dẫn đến tình trạng lạm dụng và bỏ mặc trẻ em từ quá khứ đến hiện tại.
Trên cơ sở chỉ ra những thay đổi trong xã hội và nguyên nhân dẫn đến việc
bảo vệ trẻ em bị ngược đãi không đạt hiệu quả như mong muốn, tác giả đưa ra
những giải pháp cần thiết để hoạt động bảo vệ trẻ em bị lạm dụng và bị bỏ
mặc đạt hiệu quả bền vững.
- Cuốn: "Juvenile Court: A Judge's Guide for young adults and Their
Parents" (Tòa án NCTN: Hướng dẫn pháp lý cho NCTN và cha mẹ do Leora
Krygier công bố được The Scarecrow phát hành năm 2009. Công trình đã giới
thiệu một cách có hệ thống về khái niệm NCTN, mục đích của việc thành lập
tòa án NCTN, cơ cấu tổ chức hệ thống tòa án NCTN. Sự cần thiết phải thành
lập tòa án NCTN độc lập với tòa án thành niên. Phần 2 của cuốn sách, tác giả
đã giới thiệu những kỹ năng cần thiết khi nhận được Giấy triệu tập của Tòa án
đối với NCTN và cha mẹ của họ; những kiến thức cần biết về các nhân viên
thực thi pháp luật; những kỹ năng cần thiết khi làm việc với những nhân viên
thực thi pháp luật, chẳng hạn như cảnh sát đang thi hành công vụ ở các tình
huống khác nhau. Đồng thời tác giả cũng giới thiệu các quyền của NCTN khi
bị tạm giữ hoặc bị tham gia quá trình tố tụng hình sự. Mặt khác, cuốn sách tập
trung làm rõ tiến trình tố tụng của tòa án NCTN, những kỹ năng cần thiết cho
NCTN khi tham gia tố tụng hình sự để có thể bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích
chính đáng của họ. Với kinh nghiệm của một thẩm phán đã 15 năm làm việc
tại Tòa án NCTN, tác giả đã khá thành công trong việc hướng dẫn các kiến
thức pháp lý và kỹ năng cần thiết cho những NCTN và cha mẹ của NCTN khi
gặp những vấn đề với pháp luật để NCTN và cha mẹ của họ có những kiến
thức và kỹ năng cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NCTN
và đồng

12

thời giúp cho NCTN tránh được nguy cơ gặp những vấn đề với pháp luật trong
tương lai.
- Cuốn "Protecting the world's children: Impact of the Convention of
the Rights of the Child in Diverse Legal Systems" (Bảo vệ trẻ em trên thế giới:
Tác động của Công ước về quyền trẻ em tới các hệ thống pháp luật) do
UNICEF ấn hành năm 2007 lại xem xét vấn đề tư pháp NCTN dưới góc nhìn
so sánh các kinh nghiệm lập pháp trong việc đưa CRC vào khung pháp luật của
các quốc gia và cung cấp thực tiễn thực thi CRC tại 191 quốc gia với bốn hệ
thống pháp luật điển hình: Hệ thống pháp luật Common Law, hệ thống pháp
luật Civil Law, hệ thống pháp luật Muslim và hệ thống pháp luật Châu Phi
thuộc khu vực tiểu sa mạc Sahara.
- Cuốn: "Child Protection and Juvenile Justice system for juvenile in
conflict with law" (Bảo vệ trẻ em hệ thống tư pháp NCTN đối với trẻ em xung
đột với pháp luật), Tác giả Ms. Maharukh Adenwalla, do Inconpaper xuất bản.
Cuốn sách đã làm rõ khái niệm NCTN, NCTN xung đột với pháp luật, tuổi
chịu trách nhiệm hình sự của NCTN; vai trò của cảnh sát, của người giám sát
NCTN thực thi hình phạt cải tạo không giam giữ; vai trò của nhân viên công
tác xã hội, của các tổ chức phi chính phủ, của luật sư, của các phương tiện
truyền thông đối với NCTN xung đột với pháp luật tại Ấn Độ. Tác giả đã
thông qua 13 nghiên cứu trường hợp điển hình về NCTN xung đột ở Ấn Độ để
làm rõ các luận điểm của mình.
- Cuốn: "Justice for Children: Autonomy Development and the State"
(Tư pháp cho trẻ em: Sự phát triển tính tự quản của trẻ em và sự can thiệp của
Nhà nước) do Harry Adams thực hiện nghiên cứu và Đại học New York ấn
hành năm
2008. Với hơn 197 trang viết, tác giả đã đề cập đến sự thay đổi của lứa tuổi
NCTN thông qua những biến đổi về tâm sinh lý. Đây là giai đoạn NCTN có sự
biến đổi lớn về nhận thức và hành vi, trẻ chuyển từ trạng thái luôn gắn bó với
cha mẹ, coi cha mẹ là thần tượng sang trạng thái muốn thoát dần ảnh hưởng của
cha mẹ, có khuynh hướng độc lập. Qua đó tác giả đề xuất những khu vực mà

13

NCTN có thể "tự quản", và đồng thời xác lập những giới hạn cần thiết thông
qua sự can thiệp của gia đình, nhà trường và pháp luật đối với hành vi của trẻ.
Mặt khác, tác giả cũng khẳng định không có học thuyết pháp lý nào là hoàn
hảo tuyệt đối để áp dụng duy nhất.
- Cuốn: "Justice for Children: Detention as a Last Resort" (Innovative
Initiatives in the East Asia and Pacific Region) (Tư pháp cho trẻ em: Phạt tù
như là biện pháp cuối cùng (Sáng kiến ở khu vực Đông Nam Á và Thái Bình
Dương), do tổ chức Unicef East Asia And Pacific Regional Office (EAPRO)
ấn hành. Công trình tiếp cận vấn đề tư pháp NCTN thông qua thực tiễn ba quốc
gia: Philipin, Thái Lan, Campuchia. Tư pháp NCTN không chỉ nhằm mục
đích hướng tới NCTN phạm tội mà còn giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ
em là nạn nhân của nghèo đói, lạm dụng, bóc lột sức lao động, trẻ em là nạn
nhân của việc buôn người, nạn nhân của công nghiệp tình dục,...Trên cơ sở
tiếp cận dưới góc độ những tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế, đối chiếu với
những hoạt động lập pháp của các quốc gia, thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ
quyền trẻ em tại các quốc gia này thông qua các mô hình tư pháp hình sự được
thiết lập, và ở đó việc áp dụng hình phạt tù đối với NCTN như là biện pháp
cuối cùng.
- Cuốn: "Handbook for Professionals And Policymakers on Justice
Matters Involving Child Victims and Witnessed of Crime" (Sổ tay cho những
người làm công tác pháp luật và xây dựng chính sách liên quan đến nạn nhân
và nhân chứng trẻ em), là một trong số series các cuốn sổ tay tư pháp hình sự
do Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về ma túy và hình sự phát hành năm
2009. Cuốn sách đã cung cấp các kiến thức nền tảng về tư pháp NCTN cho các
nhà hoạt động chuyên nghiệp: Thẩm phán, luật sư,...nhằm bảo đảm tốt nhất
quyền của trẻ em khi buộc phải tham gia vào hoạt động tư pháp hình sự trên
hai phương diện: nạn nhân của tội phạm và nhân chứng. Các nguyên tắc được
đưa ra xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc của pháp luật quốc tế: Quy tắc
Bắc Kinh, Hướng dẫn Ryard và được cụ thể hóa trong các bộ luật của Hợp
chủng quốc Hoa Kỳ.


Tài liệu liên quan
Xemtailieu.com không chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề bản quyền tài liệu được thành viên tự nguyện đăng tải lên.