VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ DUNG

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ HỘI THOẠI
TRONGMỘT SỐ HOÀN CẢNH GIAO TIẾP
CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9 22 90 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2020

Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TSKH. LÝ TOÀN THẮNG
2. PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG KHÁNH

Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Thiện Giáp

Phản biện 2: GS.TS. Bùi Minh Toán
Phản biện 3: PGS.TS. Tạ Văn Thông

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp
tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,
477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Vào hồi ngày

tháng

năm 20

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1 1 Dưới nh s ng
Ng
ng họ đặc biệt c a Lý thuyết Hội thoại
hs
ng ngôn ng trong gi o tiếp đượ đặc biệt chú ý, ở nhiều khía cạnh khác
nhau.Tìm hiểu hội thoại c gi o tiếp hội ở nh ng hoàn cảnh khác nhau trong
đó ó gi o tiếp trong Quân đội Nhân dân Việt Nam có thể góp phần chỉ r đặc
điểm ngôn ng c a một cộng đồng hay một nhóm xã hội.
1.2. Ngôn ng hội thoại trong một số hoàn cảnh giao tiếp c a Quân
đội Nhân dân Việt Nam ( gọi tắt là giao tiếp quân đội ) hết sức linh hoạt. Ở
các thoại trường giao tiếp khác nhau, xét ưới gó độ Ng
ng họ nh ng
cuộc hội thoại giao tiếp quân đội, dù ở thoại trường giao tiếp nào, vẫn mang
nh ng đặ điểm chung c a hoạt động giao tiếp thông thường, vẫn chịu sự tác
động c a các quy tắc hội thoại, các nhân vật giao tiếp vẫn phải theo nh ng
chiến lược nhất định.
1.3. Trong ngôn ng học, nghiên cứu ngôn ng hội thoại là mảng đề tài
vô cùng phong phú, từ trướ đến n y được nhiều tác giả ngôn ng họ nước ngoài
và trong nướ đề cập tới. Trong thời gian qua có một số tác giả đ vận d ng lý
thuyết Ng d ng học vào việc nghiên cứu ngôn ng trong các hoạt động giao tiếp
kh nh u Tuy nhiên
ông trình đi sâu nghiên ứu ngôn ng hội thoại bằng
tiếng Việt trong giao tiếp ở quân đội hầu như hư ó
Vì nh ng lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ hội
thoại trong một số hoàn cảnh giao tiếp của Quân đội Nhân dân Việt Nam”
làm hướng nghiên cứu trong luận án này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận n hướng đến m đí h là hỉ ra nh ng đặ điểm ngôn ng hội
thoại trong một số hoàn cảnh giao tiếp c quân đội (Cụ thể hội thoại thi vấn
đáp tốt nghiệp tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 Thị xã Sơn Tây; Hội thoại
khám chữa bệnh tại Bệnh viện 108 Quận Hai Bà Trưng; Hội thoại giao dịch
tại một số chi nhánh Ngân hàng Quân đội, các thoại trương Luận án lựa
chọn khảo sátthuộc Thành phố Hà Nội) ưới ánh sáng Ng d ng học, nhằm
1

góp phần chuẩn hóa ngôn ng và nâng cao hiệu quả giao tiếp trong học tập,
huấn luyện, công tác c Quân đội Nhân dân Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa nh ng nghiên cứu trướ đây ó liên qu n đến đề tài,
nh ng vấn đề lý luận được chọn làm ơ sở ho định hướng nghiên cứu đề tài.
- Thu thập, x lý ng liệu, c thể các cuộc thoại ghi chép, ghi âm
trong ba hoàn cảnh giao tiếp nói trên c Quân đội Nhân dân Việt N m để
thống kê phân loại theo
tiêu hí
định.
- Phân tích, miêu tả
đơn vị hội thoại trong giao tiếp. Chỉ ra chức
năng a các hành vi ngôn ng thường ùng và tính tương t
a chúng
trong hội thoại giao tiếp quân đội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu c a luận n là đặ điểm ngôn ng hội thoại
trong giao tiếp ở
đơn vị thuộ Quân đội Nhân dân Việt Nam, c thể là:
50 cuộc thoại giao tiếp gi a giảng viên với học viên trong thi vấn đ p tốt
nghiệp tại Trường Sĩ qu n L c quân 1; 50 cuộc thoại giao tiếp gi b sĩ với
bệnh nhân trong khám ch a bệnh tại Bệnh viện Quân đội 108; 50 cuộc thoại
giao tiếp gi a nhân viên với khách hàng trong giao dịch tại một số chi nhánh
c Ngân hàng Quân đội Hà Nội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Ngôn ng hội thoại trong giao tiếp ở
ơ sở thuộ Quân đội
Nhân Việt Nam rất đ ạng, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Thời gian nghiên cứu: Nguồn d liệu sơ ấp được tác giả thu thập
trong khoảng thời gi n 2015 đến 2018. X lý và bổ sung ng liệu từ tháng
12/2015 đến tháng 9/2019.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận n này được thực hiện với
phương ph p và th pháp sau:
4.1. Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương ph p này nhằm m đí h phân tí h
uộc thoại giao tiếp
đặt trong mối quan hệ với ng cảnh và các yếu tố kh như qu n hệ tương
tác, quan hệ liên nhân.

2

Luận n ũng s d ng phương ph p này để chỉ r đặ điểm về cấu
trú đặ điểm lời thoại c a các thoại nhân, qua hình thức c a các lời thoại
tương t đặ điểm c a cặp thoại, tham thoại …ảnh hưởng đến quá trình s
d ng ngôn ng c a các thoại nhân khi tham gia hội thoại trong một số hoàn
cảnh giao tiếp quân đội.
4.2. Phương pháp điều tra ngôn ngữ học xã hội
Phương ph p này được vận d ng khi khảo sát thực tế thu thập ng
liệu làm ơ sở d liệu cho luận án, gồm: ghi chép, ghi âm, ch p ảnh.
4.3. Phương pháp miêu tả
Phương ph p này được vận d ng khi phân tích và tổng hợp để xác
định đặ điểm lời thoại từng kiểu đơn vị hội thoại qu đó
định đặ điểm,
vai trò, cấu trúc, chứ năng a chúng trong hội thoại.
Trong luận án, th pháp thống kê đượ ùng để chỉ ra quy luật xuất
hiện c
đơn vị tham gia cấu tạo nên các cuộc thoại: cặp thoại, (lượt lời)
tham thoại đặc biệt là tham thoại dẫn nhập, tham thoại hồi đ p
hành vi
ch hướng, hành vi ph thuộc, hỏi trực tiếp, hỏi gián tiếp …
5. Đóng góp về khoa học của luận án
Kết quả nghiên cứu c a luận án chỉ ra nh ng đặ trưng ơ bản, xác
định được các mô hình cuộc thoại trong ba hoàn cảnh giao tiếp c quân đội
mà luận án lựa chọn ở trên. Đồng thời, luận án hệ thống hóa chiến lược giao
tiếp mà các thoại nhân thường s d ng để xây dựng chiến lược giao tiếp
đạt:“sự thông minh, sáng tạo của nghệ thuật ứng xử trong giao tiếp quân
đội”, hướng đến sự chuẩn mực cho các thế hệ sau kế thừa phát triển trong
quá trình học tập và công tác giúp cho hoạt động giao tiếp ở môi trường
quân đội luôn đạt hiệu quả o đảm bảo nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả c a luận án có thể góp phần làm sinh động phong phú hơn
ho Ng
ng họ đặc biệt c a Lý thuyết Hội thoại làm rõ hơn một số nội
dung c a ngôn ng hội thoại qua nghiên cứu trường hợp giao tiếp, ở
ơ
qu n đơn vị o quân đội quản lý.
3

6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu c a luận án có tác d ng tích cự hướng đến tính
chuẩn mực về giao tiếp trong quân đội. Chúng tôi hy vọng rằng kết quả
nghiên cứu bướ đầu c a luận án còn là tài liệu học tập, tham khảo h u ích
ho đồng nghiệp, học viên ở môi trường quân đội nói hung và
lĩnh vực
giáo d c, ngân hàng, y tế trong quân đội nói riêng.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính c a Luận án gồm
bốn hương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và ơ sở lý thuyết;
Chương 2: Lượt lời và cấu trú lượt lời trong giao tiếp Quân đội Nhân dân
Việt Nam; Chương 3: Cặp thoại trong giao tiếp Quân đội Nhân dân Việt
Nam; Chương 4: Lịch sự trong giao tiếp Quân đội Nhân dân Việt Nam
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu hội thoại ở nước ngoài
C m từ phân tích hội thoại xuất hiện sớm nhất trong tác phẩm c a hai
tác giả nghiên cứu người Mĩ là Eving Gossm n và H rold Gasinkel [102.tr.
403] trong đó nền tảng c a lý thuyết hội thoại là nh ng tư tưởng c a bộ môn
phương ph p luận dân tộc học (ethnomethodology) trong nghiên cứu hội
thoại và qu n điểm về trật tự tương t
a E.Gossman. Nh ng năm 70 a
thế kỉ XX, nhờ công trình c a Harvey Sackd và một số cộng sự c a ông là
Emmamueal A. Schegloff, Gail Jefferson, phân tích hội thoại tách ra khỏi
ngành dân tộc học trở thành lĩnh vực riêng biệt với m đí h nghiên ứu cấu
trúc hoạt động c a giao tiếp mà trướ đây nó bị ảnh hưởng bởi một số ngành
khoa học liên nhân (Lerner,2004).
Phân tích hội thoại được rút ra từ nghiên cứu dân tộc họ qu n tâm đến
trật tự tạo r như thế nào trong tương t
hội, với phương ph p thực
nghiệm dựa trên phân tích vi mô (Claymau và Maynard,1995).
4

1.1.2.Tổng quan tình hình nghiên cứu hội thoại ở trong nước
Ng d ng học nói chung và Lý thuyết Hội thoại nói riêng so với các
chuyên ngành ngôn ng học khác xuất hiện ở trong nước muộn hơn Tuy
nhiên, nh ng thập niên đầu thế kỉ XXI, các nhà ngôn ng họ đ ông bố
nhiều công trình nghiên cứu ó liên qu n đến vấn đề hội thoại.
Các tác giả như Diệp Quang Ban, Nguyễn Đứ Dân Đỗ Kim Liên, Nguyễn
Văn Kh ng …Một trong nh ng tác giả đi tiên phong ở lĩnh vự này là Đỗ
H u Châu với h i ông trình “Đại cương Ngôn ngữ học” (2002) “Cơ sở ngữ
dụng học” (2003) Ông được xem là một trong nh ng người đầu tiên đề xuất
một hướng tiếp cận mới, một hướng nghiên cứu mới vào Việt Nam - đó là
phân tích Hội thoại trong sự hành chức c a ngôn ng Năm 1993 lần đầu
tiên các vấn đề lý thuyết hội thoại như: ấu trúc hội thoại, các quy tắc hội
thoại thương lượng hội thoại, chứ năng
đơn vị hội thoại đ được
Đỗ H u Châu trình bày trong cuốn “Đại cương Ngôn ngữ học” Tập 2 [10].
Có thể oi đây là nh ng công trình chuyên sâu về ng d ng học nói chung và
hội thoại nói riêng ở Việt Nam. Mặt kh h i ông trình này ũng hính là
nh ng định hướng quan trọng giúp người đọ bướ đầu tiếp cận một lĩnh vực
nghiên cứu mới khó nhưng ũng hứa hẹn nhiều điều thú vị.
Trên ơ sở nh ng tri thức nền tảng lý thuyết hội thoại trong và ngoài
nước, nhiều ông trình đ tập trung nghiên cứu, mở rộng việc vận d ng lý
thuyết hội thoại vào thực tiễn giao tiếp hàng ngày ũng như trong t phẩm
văn họ văn bản quản lý nhà nướ … Tuy nhiên ho đến nay, ngôn ng hội
thoại giao tiếp c a cán bộ nhân viên Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn là
mảng đề tài để ngỏ cần được tiếp t c khám phá
1.1.3.Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trong môi trường quân đội.
Quân đội Nhân ân hơn bảy mươi năm ây ựng chiến đấu trưởng
thành mảng đề tài về lịch s quân đội, về nghệ thuật chiến tranh nhân dân, về
anh bộ đội C Hồ…được nhiều tác giả nghiên cứu. Bên cạnh đó mảng đề tài
về khoa học ngôn ng quân sự, theo tìm hiểu c
húng tôi đến nay có một
số công trình nghiên cứu c thể như s u:

5

Các tác giả M Gi ng Lân Hà Minh Đức và Trần Khánh Thành ;
Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Văn Th o Hoàng Đình Châu Nguyễn Thị
Th nh Hà Vũ Qu ng Hào Phạm Thị Hạnh, Tô Thị Phương L n Nguyễn
Thị Thu Tr ng …
Ngôn ng giao tiếp c Quân đội Nhân dân Việt N m được nhìn nhận
như là nh ng cái vốn có trong các bình diện nội dung và bình diện biểu hiện
(hình thức) c
thông điệp bằng ngôn ng giảng viên (GV) và học viên
(HV) b sĩ (BS)với bệnh nhân (BN), nhân viên (NV) ngân hàng với khách
hàng (KH) tr o đổi với nhau bằng lời nói hướng đến m đí h ả hai cùng
quan tâm. Có thể nói rằng đề tài n y đến nay vẫn khá mới mẻ đó là m c tiêu
có thể tìm hiểu nghiên cứu.
Như vậy có thể nói rằng các công trình nghiên cứu trên mặc dù tiếp
cận vấn đề ở nhiều gó độ kh nh u nhưng là nh ng nguồn tài liệu quý
báu.Thông qua các tài liệu đó t giả luận án có thể tham khảo phương ph p
tiếp cận, biện pháp trình bày diễn giải vấn đề, cách thức tiếp cận nh ng tri
thức lý luận chung nhất vấn đề được nghiên cứu qu đó tạo ơ sở cho việc
đề xuất và thực hiện các biện pháp nâng cao hiệu quả giao tiếp trong thực
tiễn Quân đội Nhân dân Việt Nam.
1.2.Cơ sở lý thuyết
Đối tượng nghiên cứu c a ng d ng họ là
điều kiện c a việc s
d ng ngôn ng trong giao tiếp Cơ ấu và phạm vi c
điều kiện ấy là rất
rộng. Nó bao gồm các yếu tố ngoài ngôn ng liên qu n đến giao tiếp: từ
nh ng nội ung kh i qu t như hệ thống tri thứ hung hành động xã hội …
ho đến các yếu tố như tình huống giao tiếp, tiền giả định, các yếu tố thuộc
hệ thống ký hiệu phi ngôn ng (c chỉ điệu bộ …) Theo Nguyễn Thiện
Gi p “Ngữ dụng học nghiên cứu những cách thức con người dùng ngôn ngữ
trong hội thoại thực tế, tức là nghiên cứu ngữ cảnh đã giúp cho việc xác định
một phát ngôn nào đó là phù hợp hay không phù hợp, cũng như sự thay đổi
ngữ cảnh làm thay đổi nghĩa của câu như thế nào?… Giao tiếp ngôn ngữ là
quá trình tương tác lẫn nhau giữa người nói và người nghe, giữa lời nói này
với lời nói kia. Các phát ngôn lệ thuộc vào niềm tin và ý định của người nói,
6

vào sự chờ đợi, sự suy luận của người nghe, vào vốn hiểu biết chung giữa
người nói và người nghe” [31 tr 537 538]
1.2.1. Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp (Communication) với ba yếu tố “quá trình trao tin giữa hai
người”,“hai người giao tiếp trao đổi với nhau”,“gắn với một tình huống và
ngữ cảnh” đều cần thiết cho cuộc giao tiếp được thực hiện. Giao tiếp trong
một số hoàn cảnh c Quân đội Nhân dân Việt Nam không phải là “ngôn
ngữ trao đổi bằng lời trong cuộc sống thường nhật” cho tất cả các hành
động ngôn ng trong xã hội. Mặt khác nội dung thông tin giao tiếp trong một
số hoàn cảnh giao tiếp c Quân đội Nhân dân Việt Nam không hoàn toàn là
“một cái gì đó” mà người nhận hư biết.
Nói c thể hơn về giao tiếp ở môi trường quân đội, chúng ta cần thấy
rằng sự tr o đổi thông tin qua lại gi a cán bộ, nhân viên với đối tượng giao
tiếp như học viên, bệnh nhân, khách hàng có nh ng nét khác biệt hơn với
giao tiếp thông thường như: ngôn ng ó tính điều lệnh hó
o hơn quy
trình bài bản hơn ngôn từ lựa chọn chuẩn mự hơn …
1.2.2. Lý thuyết hành vi ngôn ng
1.2.2.1. Hành vi ngôn ngữ theo quan điểm của Austin
Năm 1955 Austin – nhà Triết họ người Anh đ trình bày 12 huyên
đề tại Đại học tổng hợp Harvard. Nh ng huyên đề này đ được tập hợp lại
và xuất bản thành sách với nh n đề How to do things with words (nh ng
hành động ngôn từ trong luận án dùng hành vi ngôn ng ) vào năm 1962.
.1.2.2.2. Mối quan hệ giữa nghĩa tình thái và hành vi tại lời
1.2.2.3. Mối liên hệ giữa nghĩa tình thái và hành vi tạo lời, mượn lời
1.2.2.4. Tình thái của hành động phát ngôn và lời phát ngôn
1.2.3.Lý thuyết hội thoại
Trong phạm vi c a lý thuyết hội thoại có nhiều vấn đề chính yếu cần
đượ qu n tâm như: hiến lược hội thoại, phong cách hội thoại, cấu trúc hội
thoại đơn vị hội thoại hướng đến phân tích sự liên kết tổng thể c văn bản
hay diễn ngôn (discourse). Ở đây húng tôi qu n tâm đến vấn đề phân tích
diễn ngôn hội thoại.
7

Hội thoại là sự tương t bằng lời theo Đỗ H u Châu: “Hội thoại là
hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn
ngữ. Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa
vào hình thức hoạt động căn bản này” [9. tr. 276].
Dạng ơ bản c a hội thoại là song thoại (dialogue).Tác giả Đỗ H u
Châu:“gọi đây là hình thức đối thoại tay đôi hay hình thức đối thoại tích cực
mặt đối mặt giữa hai nhân vật hội thoại” [10.tr.36].Theo Nguyễn Đức
Dân:“Nó làm nền tảng cho việc nghiên cứu đa thoại”[13.tr.77]. Các nhà
nghiên cứu khi nói đến hội thoại thườngđề cập đến các khái niệm chính yếu
có liên quan: đối thoại (dialogue), cuộc thoại (interaction), đoạn thoại
(sequence),cặp thoại (exchange),tham thoại (move) …Theo lý thuyết phân
tích hội thoại thì hội thoại có hai tổ chức tổng quát: tổ chức cặp (sequential
organisation) và tổ chứ đượ ư thí h (preferen e org niz tion) C tổ
chứ đó được xây dựng từ lượt lời (turn t t lk) Đối với lý thuyết phân tích
hội thoại thì đơn vị ơ sở đơn vị tổ chứ nên
đơn vị khác lớn hơn a hội
thoại là
lượt lời(có tác giả dùng lượt nói, trong luận án dùng lượt lời).
Dưới
lượt lời không ó đơn vị nào n ngoài
ph t ngôn Như vậy
lượt lời là do một phát ngôn hoặc do một số phát ngôn liên kết với nhau kể từ
khi đượ người nói nói r ho đến khi người này ngừng lời, tứ ho đến khi
gặp một vị trí chuyển tiếp quan yếu. 1.2.3.1. Vận động hội thoại
Vận động hội thoại gi a các nhân vật tham gia giao tiếp gồm ba vận
động ch yếu: trao lời tr o đ p và sự tương t hội thoại.
1.2.3.2.Các đơn vị hội thoại
Hội thoại có cấu trúc hoàn chỉnh bao gồm
đơn vị hội thoại bậ ưới
cấu tạo nên Tuy nhiên ho đến nay, có nhiều qu n điểm khác nhau trong việc
định cấu trúc hội thoại. Theo lý thuyết phân tích hội thoại ở Mỹ
( onvers tion n lysis) đơn vị ơ sở đơn vị tổ chứ nên
đơn vị khác lớn hơn
c a hội thoại là lượt lời. Lý thuyết phân tích hội thoại chỉ đề cập đến cặp kế cận
(adjacency pair) và cấu trú đượ ư huộng Trường phái phân tích hội thoại
Th y Sĩ – Pháp cho rằng hội thoại là một tổ chứ ó tôn ti như tổ chức một đơn
vị ú ph p C đơn vị cấu trúc c a hội thoại từ lớn đến đơn vị tối thiểu là:
8

Cuộc thoại (cuộ tương t – conversation, interaction)
Đoạn thoại (sequence)
Cặp trao đ p ( ặp thoại) (exchange)
B đơn vị trên có tính chất lưỡng thoại ( i log l) ó nghĩ là hình
thành do vận động tr o đ p a các nhân vật hội thoại.
H i đơn vị có tính chất đơn thoại ó nghĩ là o một người nói ra là:
Tham thoại (intervention)
Hành vi ngôn ng
1.2.4. Lịch sự và vấn đề nghiên cứu lịch sự giao tiếp của quân đội
1.2.4.1. Lịch sự và lịch sự chiến lược
Về lịch s nghiên cứu lịch sự, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất tạm chia thành
h i trường phái lớn: trường phái nghiên cứu lịch sự chiến lượ (theo qu n điểm
c a các nhà ngôn ng họ phương Tây) và trường phái nghiên cứu về lịch sự
chuẩn mự (theo qu n điểm c a các nhà ngôn ng họ phương Đông)
1.2.4.2. Lịch sự chuẩn mực và lịch sự của người Việt
Người Việt Nam trong giao tiếp luôn chú trọng sự tế nhị, khéo kéo, khiêm
nhường (biểu hiện c a lịch sự chiến lược) vừa nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong
giao tiếp vừ giúp đối tác giao tiếp gi được mối thân tình. Mặt kh người Việt
còn chú trọng sự lễ độ đúng mực (cách ứng x phù hợp với lịch sự chuẩn mực),
thể hiện sự tôn trọng các giá trị xã hội như tuổi tác, vị thế, tôn ti, thứ bậ …
1.2.4.3. Lịch sự trong giao tiếp ở môi trường quân đội
Theo quy định c Điều lệnh Quản lý bộ đội Quân đội Nhân dân Việt
N m[5 tr 35] Chương III: Lễ tiết tác phong Quân nhân, m 2: Xưng hô
Điều 37 qui định như s u: “Quân nhân gọi nhau bằng “Đồng chí” và xưng
“Tôi”. Sau tiếng “Đồng chí” có thể gọi tiếp cấp bậc, chức v , họ tên mà
người mình định tiếp ú Đối với cấp trên có thể gọi là “Thủ trưởng”. Nghe
gọi đến tên, quân nhân phải trả lời “có”. Khi nhận lệnh hoặ tr o đổi trong
công việc quân nhân phải nói “rõ”. Trong lúc nghỉ ngơi quân nhân ó thể
ưng hô với nhau theo tập qu n thông thường” Điều 40 quy định “Khi trực
tiếp báo cáo, quân nhân phải chào và tự giới thiệu đầy đủ họ, tên, chức vụ,
đơn vị của mình trên một cấp và báo cáo theo cức vụ của cấp trên, khi không
9

biết chức vụ thì báo cáo theo cấp bậc, báo cáo xong nội dung phải nói
“hết”.Đối với cấp trên trực tiếp khi báo cáo, quân nhân không phải tự giới
thiệu họ, tên, chức vụ, đơn vị của mình…”. Có thể nói rằng, lịch sự là một trong
nh ng yêu cầu bắt buộc về đạo đức nghề nghiệp c a cán bộ nhân viên Quân đội
Nhân dân Việt N m Điều này được khẳng định trong hầu hết các cuộc thoại giao
tiếp chúng tôi thu thập được qua nguồn ng liệu.
Tiểu kết chương 1
1.Qua tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể thấy: Cho đến nay,
nhiều ông trình trong và ngoài nướ đ tập trung nghiên cứu hội thoại trong
giao tiếp hàng ngày ũng như trong t phẩm văn họ văn bản quản lý nhà
nướ … Tuy nhiên ngôn ng hội thoại trong một số hoàn cảnh giao tiếp c a
Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn là mảng đề tài để ngỏ cần được tiếp t c
tìm hiểu khám phá.
2. Một số khái niệm ơ bản và nh ng vấn đề liên quan trong lý luận
đượ ùng làm ơ sở cho việ phân tí h đặ điểm ngôn ng hội thoạitrong
giao tiếp quân đội. Luận án vận d ng Ng d ng học tập trung xem xét ch
yếu
trường hợp liên qu n đến vận động hội thoại; lượt lời và cấu trúc
lượt lời; Đặ điểm cặp thoại giao tiếp quân đội.Từ đó hỉ r đặ điểm ngôn
ng hội thoại trong một số hoàn cảnh giao tiếp c Quân đội Nhân dân Việt
N m luôn đảm bảo nguyên tắc lịch sự. Hội thoại nhìn từ gó độ lý thuyết
hành vi ngôn ng là một sự kiện lời nói hoàn chỉnh, trong đó mỗi hành vi
ngôn ng là một bộ phận cấu thành. Hành vi ngôn ng đượ em là đơn vị
chứ năng nhỏ nhất c a hội thoại đồng thời là đơn vị tạo nên cấu trúc tham
thoại. Nguyên tắc lịch sự hướng tới thể hiện sự tôn trọng các giá trị xã hội
c đối tác hội thoại như địa vị, quyền lực, thứ bậc, tuổi tác, giới tính, chức
v …Tôn trọng người đối thoại ũng hính là gi thể diện cho chính mình.
Điều này phù hợp với đặ điểm c văn hó phương Đông trọng tình đề cao
sự hòa hợp gi a cái tôi và cộng đồng Như vậy, lịch sự chuẩn mực có tính
khuôn mẫu quy ước, coi trọng quan hệ vị thế, quan hệ thân sơ
3. Ng d ng họ đặc biệt lý thuyết giao tiếp, lý thuyết hội thoại, lý
thuyết phân tích diễn ngôn … được vận d ng vào việc tìm hiểu cuộc thoại
10

giao tiếp c a quân đội. Về cấu trúc, mỗi cuộc thoại có thể được xem là một
hệ thống cấu trúc c
đơn vị chứ năng được tổ chức theo quan hệ tôn ti
từ lớn đến nhỏ (cuộc thoại đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, ...), với sự tham
gia c a các hành vi ngôn ng và nguyên tắc lịch sự. Tuy nhiên, ngôn ng hội
thoại trong một số hoàn cảnh giao tiếp c quân đội vừ m ng đặ điểm c a
cuộc thoại thông thường vừa có nh ng nét khác biệtc a các thoại trường
khác nhau trong ba hoàn cảnh giao tiếp c thể c quân đội mà Luận án lựa
chọn khảo sát nghiên cứu.
Chương 2
NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG GIAO TIẾP
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
2.1. Dẫn nhập
Hội thoại giao tiếp quân đội là sự tương t bằng lời gi a hai thoại
nhân. Thực chất là nh ng cuộ đối thoại (dialogue) là hình thức hội thoại mặt
đối mặt gi người nói và người nghe. Khác với độc thoại đối thoại là một
dạng thức c a lời nói trong đó mỗi ph t ngôn đều trực tiếp hướng đến người
đối thoại và xoay quanh một ch đề hạn chế c a cuộc thoại. Trong hành vi
giao tiếp đương nhiên là phải có sự tham gia c người nói người nghe và
một số thành tố khác. Theo Trần Ngọc Thêm, thì hành vi giao tiếp như: “Một
sự tác động hoàn chỉnh có tính chất cơ sở của người phát tin đối với người
nhận tin, thông qua sản phẩm ngôn ngữ (ngôn phẩm)” [dẫn theo 85, tr.11].
Ngôn ng hội thoại giao tiếp quân đội nguồn ng liệu thu thập x lý là ngôn
phẩm tồn tại ưới dạng lời nói (speech). Lời nói tồn tại ch yếu ưới hình
thứ âm th nh đó là sản phẩm khá phức tạp. Ở đó ngôn ng xuất hiện với
toàn bộ sự đ ạng, phong phú về kết cấu.
2 2 Tương t hội thoại giao tiếp quân đội
2.2.1. Quyền đượ nói lượt lời và hệ thống điều hành c c bộ
Trong hành vi lời nói đơn vị giao tiếp là lời nói. Phát ngôn chỉ trở
thành đơn vị giao tiếp khi nó thực hiện chứ năng a lời nói Điều đó àng
trở nên thú vị khi George Yule đ ùng
h nhìn nền kinh tế thị trường để ví
von rằng: trong hội thoại có một thứ hàng hóa quý hiếm đó là quyền được
11

nói (floor). Mỗi lần người dự thoại s d ng cái quyền đượ nói đó thì lần đó
được gọi là một lượt lời (turn t t lk) ơ sở c a một lượt lời là hành động nói
(speech act). Dấu hiệu rõ nhất c a chỗ chuyển lượt thích hợp là chỗ kết thúc
c a một đơn vị cấu trú ( âu ú đoạn) và chỗ ngừng.
2.2.2. Chỗ ngừng, hiện tượng gối đầu và kênh phản hồi
Hội thoại giao tiếp quân đội là nh ng cuộc song thoại ó nghĩ là
h i người tham dự được nhận lượt nói và mỗi lần chỉ một người được nói với
sự chuyển tiếp lượt lời trôi chảy từ người này s ng người tiếp theo đượ đ nh
giá cao là các cuộc thoại thi vấn đ p tốt nghiệp và nh ng cuộc thoại giao
dịch ngân hàng.
2.3. Lượt lời và tham thoại giao tiếp quân đội
Trong giao tiếp quân đội, một tham thoại do một thoại nhân nói ra có
thể là một lượt lời ũng ó thể là bộ phận c lượt lời.Bởi lẽ, tham thoại là
một đơn vị hội thoại, có thể nhỏ hơn lượt lời. Một lượt lời giao tiếp quân đội
có thể gồm nhiều tham thoại mà ũng ó thể nhỏ hơn th m thoại (một tham
thoại gồm nhiều lượt lời). Cần phân biệt lượt lời và tham thoại. Theo Nguyễn
Thiện Giáp: “Lượt lời (turn) là một hình thức hoạt động xã hội nó bị chi phối
bởi một hệ thống những quy ước đối với việc giành lời, giữ lời và nhường lời
mà mọi thành viên trong xã hội đều biết”[31.tr.66]. Còn tham thoại theo
Gi o sư Đỗ H u Châu thì: “Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật
hội thoại vào một cặp thoại nhất định” [10.tr.316].
BS: Anh Thảo đi khám gì vậy?
BN: Tôi đau đầu.
Quan sát ví d trên cặp thoại gồm 2 tham thoại với tham thoại hỏi
thuộc về b sĩ:“Anh Thảo đi khám gì vậy?”tham thoại đ p a bệnh
nhân:“Tôi đau đầu” ở đây lượt lời c b sĩ và bệnh nhân trùng khớp với
tham thoại Qu n điểm c Gi o sư Đỗ H u Châu: “Xét trong quan hệ hội
thoại,…như các thiết chế pháp lý và những người hội thoại có những tư cách
pháp nhân nhất định” [10.tr.319].

12

2.4.1. Hành vi chào – chào
Searle cho rằng hành vi hào được thực hiện trong
điều kiện như s u:
Điều kiện chuẩn bị: Người nói vừa gặp người nghe hoặc vừ được giới thiệu
với người nghe Điều kiện ăn bản: Người nói nhằm bày tỏ một cách lịch sự
rằng nh t đ nhận biết người nghe. Cuộc thoại khám ch a bệnh thường mang
tính chất chia sẻ, trò chuyện đời thường nhưng kết quả khảo sát cho thấy, tham thoại
có hành vi chào - chào không xuất hiện trong đoạn thoại mở thoại giao tiếp gi a bác
sĩ với bệnh nhân . Vì vậy hành vi chào – chào trong ng cảnh này không có hành vi
nào. Đây là điểm khác biệt về hành vi chào - chào trong ng cảnh giao tiếp c a hội
thoại khám ch a bệnh tại Bệnh viện 108 so với ng cảnh giao tiếp thi vấn đ p tốt
nghiệp tại Trường Sĩ qu n L c quân 1 và giao dịch tại Ngân hàng Quân đội Hà Nội.
2.4.2. Hành vi hỏi – trả lời
Tham thoại giao tiếp quân đội ở ba ng cảnh giao tiếp luận án lựa
chọn ở trên, kết quả khảo sát cho thấy hành vi hỏi – trả lời là loại hành vi phổ
biến nhất trong giao tiếp quân đội.Kết quả khảo sát hành vi hỏi trực tiếp
trong tham thoại giao tiếp quân đội, các thoại nhân khi thực hiện hoạt động
giao tiếp với ng điệu lên giọng ở cuối âu như vậy phù hợp với kiểu câu
chứa hành vi hỏi trực tiếp.Thông qua dấu hiệu ng điệu lên giọng ở phát
ngôn giúp SP1 hướng m đí h gi o tiếp đến SP2 Đồng thời ng điệu lên
giọng cuối câu có từ “ạ” cho thấy SP1 bộc lộ cảm xúc, biểu thị sự kính
trọng, lễ phép c a mình với SP2 khi tương t hội thoại.
2.4.3. Hành vi mệnh lệnh – thực hiện mệnh lệnh
Khi SP1 tương t với SP2 trong hội thoại giao tiếp quân đội, SP1 s
d ng phát ngôn chứa hành vi mệnh lệnh (cầu khiến) nhằm m đí h bày tỏ ý
muốn bắt buộc hoặc nhờ SP2 thực hiện lệnh nêu lên trong phát ngôn, ở mỗi
ng cảnh giao tiếp, biểu hiện c a chúng khác nhau.
2.4.4. Hành vi trần thuật – trần thuật
Với hành vi ngôn ng thì trần thuật là hành vi có nhiều tên gọi nhất.
Hành vi trần thuật tương ứng với khái niệm hành vi trình bày (expositives )
c a Austin, hành vi xác tín ( assertive ) hay hành vi tái hiện ( representatives)
c Se rle … Trong nghiên cứu Tiếng Việt Gi o sư Đỗ H u Châu đư r
13

khái niệm câu trần thuyết. Một vài tác giả khác gọi là câu kể. Hành vi trần
thuật tiền giải định là SP1có hiểu biết nhất định về sự việc, sự kiện nào đó
mà SP2 quan tâm. Kết quả khảo sát cho thấy hành vi ngôn ng giao tiếp
quân đội, các hành vi mệnh lệnh, trần thuật, hỏi đ p là kiểu hành vi được
dùng phổ biến nhất trong hội thoại thi vấn đ p tốt nghiệp tại Trường Sĩ qu n
L c quân 1; Hành vi hỏi đ p uất hiện khá nhiều trong hội thoạị khám ch a
bệnh tại Bệnh viện 108. Hành vi chào – chào; chào – chào tạm biệt, chiếm tỉ
lệ cao trong hội thoại giao dịch tại Ngân hàng Quân đội Hà Nội. Kết quả này
ph hợp với qu n điểm c Gí o sư Đỗ H u Châu: “Vai trò và chức năng
của các hành vi ngôn ngữ là nằm trong mạng lưới hội thoại, không chỉ nằm
trong quan hệ một lần giữa người nói và người nhận mà quan trọng hơn
nhiều là nằm trong quan hệ giữa các lời thoại tổ chức nên tham thoại, cặp
thoại trong từng thời điểm tạo nên cuộc thoại” [10. tr. 319].
Tiểu kết chương 2
1 Tương t hội thoại giao tiếp quân đội thỏ m n điều kiện đối
thoại với hai nhân tố tham gia hội thoại đó là người nói và người nghe. Bằng
điểm nhìn c a hội thoại là nhu cầu c tương t và điều kiện tương t
Tương t hội thoại (interaction) là các hành vi ứng x lẫn nhau bằng lời nói
theo nh ng m đí h nhất định. C thể tương t hội thoại giao tiếp quân
đội thể hiện trên các mối quan hệ xã hội gi a giảng viên với họ viên; b sĩ
với bệnh nhân; nhân viên ngân hàng với khách hàng và sự tr o đổi thông tin
dựa trên mối quan tâm về
lĩnh vực giáo d c quân sự, quân y và tài chính
ngân hàng Đó là h đề đối thoại mà
bên ùng hướng đến.Về ơ bản,
tương t hội thoại giao tiếp quân đội đảm bảo nguyên tắ : khi ó người nói
phải ó người nghe theo nghĩ đí h thực c a nó.“Trong quá trình hội thoại,
các nhân vật liên tương tác cùng thiết lập sự phối hợp và điều hòa
(synchronisation) các hoạt động của mình” [9. tr.297].
2 Lượt lời và tham thoại giao tiếp quân đội, kết quả khảo sát cho
thấy các thoại nhân khi tham gia hội thoại luôn ch động
định lượt lời
theo nguyên tắ luân phiên lượt lời. Gi
đối ngôn có sự luân phiên lượt
lời liên t c, ch động về lượt lời hồi đ p để đảm bảo hội thoại không bị gián
14

đoạn. Sự luân phiên lượt lời trong giao tiếp quân đội hoạt động theo ơ hế
chuyển gi o lượt lời nghĩ là SP1 và SP2 thực hiện việc trao lời - nhận lời
thích hợp với từng ng cảnh ở từng thoại trường giao tiếp c thể Khi người
nói đ ng gi lượt lời, nếu không òn ý định tiếp t c nói sẽ ch động chuyển
lượt lời ho đối ngôn tham gia hội thoại. Sự chuyển lượt lời này có thể trực
tiếp bằng lời nói đó là sự xác nhận kết thú lượt lời c a mình nhằm thông
b o ho đối ngôn tiếp t c nhận lượt lời để hồi đ p uy trì uộc hội thoại. Hội
thoại giao tiếp quân đội là dạng song thoại, vì thế ở lượt lời c người nói
thường có nh ng dấu hiệu thông báo, chỉ rõ để đối tượng nghe, tiếp nhận sự
trao lời vì lúc này chỉ có một người nghe duy nhất Cũng ó thể sự chuyển
lượt lời được thực hiện bằng hình thức gián tiếp như ng điệu hoặc nh ng
yếu tố phi ngôn từ đó là:
chỉ, khoảng không gian, vẻ mặt, ánh mắt.
Nh ng tín hiệu phi ngôn từ tuy là thứ yếu nhưng hết sức quan trọng góp phần
làm nên thành công c a hội thoại giao tiếp quân đội.Tham thoại trong hội
thoại giao tiếp quân đội về tổ chức nội tại, một tham thoại có một hành vi
ch hướng và có thể có một hoặc một số hành vi ph thuộc. Hành vi ch
hướng có chứ năng tr cột quyết định hướng c a tham thoại và quyết định
hành vi đ p thí h hợp c người đối thoại. Hành vi ph thuộc với nhiều chức
năng kh nh u
3. Hành vi ngôn ng trong tham thoại giao tiếp quân đội, kết quả
khảo sát cho thấy nhóm hành vi tái hiện và hành vi cam kết ở thoại trường
khám ch a bệnh tỉ lệ cao nhất; Ở thoại trường thi vấn đ p tốt nghiệp nhóm
hành vi điều khiển chiếm tỉ lệ cao nhất; Nhóm hành vi biểu cảm, tuyên bố ở
thoại trường thi vấn đ p tốt nghiệp và khám ch a bệnh bằng nh u Đối với
thoại trường giao dịch ngân hàng, cácnhóm hành vi ngôn ng tỉ lệ thấp hơn
so với thoại trường thi vấn đ p tốt nghiệp và khám ch a bệnh. Nhóm hành vi
tuyên bố không xuất hiện ở thoại trường giao dịch ngân hàng. Kết quả khảo
sát về nhóm hành vi ngôn ng hoàn toàn phù hợp với từng thoại trường giao
tiếp và tỉ lệ thuận với số lượng lượt lời ũng như ung lượng tham thoại ở
thoại trường giao dịch ngân hàng.

15

Chương 3
CẶP THOẠI TRONG GIAO TIẾP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

3.1. Dẫn nhập
Nghiên ứu tìm hiểu về đặ điểm ngôn ng hội thoại gi o tiếp quân
đội ở đây húng tôi tập trung em ét h yếu
trường hợp liên qu n đến
ặp thoại Bởi lẽ: “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại
do các tham thoại tạo nên” [10 tr 306] Cặp thoại hính là ặp tr o đ p tối
thiểu mà nhờ đó
uộ thoại đượ thự hiện Không ó đối thoại “một với
một” và ũng không ó đối thoại thự sự nếu
uộ tr o đổi hỉ uất hiện
uy nhất một ặp thoại Tuy vậy ù là ngắn tới mứ hỉ ó một ặp thoại
đơn h y ài hơn h i ặp thoại thì ấu trú ơ bản làm nên hội thoại vẫn quy
về ạng ặp thoại Cặp thoại là h i ph t ngôn hạt nhân trong mọi uộ tr o
đổi Do đó đối tượng này m ng đầy đ nh ng tính hất ơ bản
hội thoại
Để làm nổi bật hội thoại gi o tiếp quân đội luận n giới thiệu về thoại trường
gi o tiếp Gi o sư Đỗ H u Châu ho rằng: “Thoại trường (settingsite) được
hiểu là cái không gian – thời gian cụ thể, ở đó cuộc thoại giao tiếp diễn ra”
[9.tr.24].Thoại trường hội thoại gi o tiếp Quân đội 100% uộ thoại iễn r ở
không gi n ông ộng
3.2. Cặp thoại giao tiếp quân đội
Cặp thoại (exchange) là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất c a cuộc thoại do các
tham thoại tạo nên Căn ứ vào số lượng tham thoại để phân loại các cặp thoại giao
tiếp quân đội, chúng có cấu trúc nội tại ch yếu là cặp thoại hai tham thoại (cặp
thoại đôi) và ặp thoại nhiều tham thoại (cặp thoại phức tạp).
3.2.1. Cặp thoại thi vấn đáp tốt nghiệp
Trong giao tiếp quân đội, từng ng cảnh giao tiếp khác nhau, cặp
thoại có mô hình cấu trúc khác nhau. Theo Nguyễn Thiện Gi p “cặp thoại là
hai phát ngôn có quan hệ trực tiếp với nhau” [ 30 tr .70].Tác giả Phạm Văn
Thấu đ mô hình hó gi a lời trao và lời đ p trong hội thoại về mặt hình thức
ng pháp. Tác giả đ ây ựng 16 mô hình cặp thoại dựa vào một số kiểu
âu được ng pháp truyền thống gọi là câu chia theo m đí h ph t ngôn
[88.tr.86].
16

3.2.1.1.Cặp thoại hai tham thoại
Ở thoại trường thi vấn đ p tốt nghiệp tại Trường Sĩ qu n L c quân
1.Cấu trúc cặp thoại hai tham thoại do tính chất đặc thù về thoại trường giao
tiếp nên cặp thoại có mô hình c thể như s u
3.2.1.2. Cặp thoại nhiều tham thoại
Theo kết quả khảo sát c a chúng tôi dạng cặp thoại nhiều tham
thoại trong thi vấn đ p tốt nghiệp chiếm tỷ lệ tương đối cao.
Để hình ung rõ hơn về mô hình hình cặp thoại thi vấn đ p tốt
nghiệp chúng ta quan sát bảng trên.
3.2.1.3.Cặp thoại xét theo tính chất
Lấy tiêu chí sự phù hợp c a tham thoại hồi đ p với tham thoại dẫn
nhập có thể chia các cặp thoại ra thành hai loại: cặp thoại tích cực và cặp
thoại tiêu cực. Cặp thoại tích cực là cặp thoại có tham thoại hồi đ p thỏa mãn
đí h ẫn nhập còn cặp thoại tiêu cực là cặp thoại có tham thoại hồi đ p
không thỏ m n đí h nhập. Dựa vào tiêu chí này chúng tôi nhận định rằng
cặp thoại xét theo tính chất trong thi vấn đ p tốt nghiệp với100% cặp thoại
tích cực.
3.2.2. Cặp thoại khám chữa bệnh
Từ kết quả khảo s t hội thoại kh m h bệnh tại Bệnh viện 108 ó
496 ặp thoại với ấu trú ặp thoại h i th m thoại và ặp thoại nhiều th m
thoại Cặp thoại trong kh m h bệnh ó đặ điểm ặp hỏi – đ p là ặp h
hướng bên ạnh đó ó sự uất hiện
ặp ph thuộ C
ặp thoại hoàn
hỉnh trình bày vấn đề nhỏ nhiều ặp thoại ó sự liên kết về nội ung tạo
thành h đề lớn uộ thoại gi o tiếp gi b sĩ với bệnh nhân
3.2.2.1. Cặp thoại hai tham thoại
Gi o tiếp gi b sĩ với bệnh nhân trong kh m h bệnh ặp thoại
ấu trú h i th m thoại h yếu là ặp hỏi – đ p; ặp yêu ầu – thự hiện yêu
ầu ; ặp ặn ò – đ p … Về ơ bản hội thoại trong kh m h bệnh tại bệnh
viện 108 không tồn tại ặp thoại hẫng Đỗ H u Châu ho rằng “không nên nghĩ
rằng cặp thoại “hẫng” chỉ xảy ra khi một trong hai nhân vật hội thoại tỏ ra
không thích thú với tham thoại của người kia” [10.tr.321].
17

3.2.2.2. Cặp thoại nhiều tham thoại
Nguyễn Thiện Gi p đư r kh i niệm: “Câu trần thuật là câu có hình thức của
một nhận định. Ví : Ngôi nhà này rất đẹp. Các câu trần thuật không phải lúc
nào cũng được dùng để nhận định mà có thể được dùng với chức năng hỏi, yêu
cầu” [29 tr 115] . Cặp thoại mệnh lệnh - hỏi với âu mệnh lệnh trong tiếng Việt
đượ đặ trưng hó bằng
h ùng
vị từ tình th i hãy, đừng, chớ …hoặ
bằng
h ùng
tiểu từ đi, nào, thôi,…làm ấu hiệu ngôn hành đặt ở uối
câu ;Cặp thoại mệnh lệnh – trần thuật.Trong kh m và điều trị ho bệnh nhân b
sĩ ở bệnh viện 108 thường ùng âu mệnh lệnh yêu ầu bệnh nhân thự hiện y
lệnh
mình ;Cặp thoại ảm th n – ảm thán. Câu ảm th n là âu bộ lộ tình
ảm ảm ú
người nói.
3.2.2.3. Cặp thoại xét theo tính chất
Dựa vào tiêu chí sự phù hợp c a tham thoại hồi đ p với tham thoại
dẫn nhập để chia các cặp thoại ra thành hai loại: cặp thoại tích cực và cặp thoại
tiêu cự Đỗ H u Châu cho rằng “Khi một cặp thoại thỏa mãn được đích của
tham thoại dẫn nhập (nói đúng hơn thỏa mãn đích của hành vi thực hiện tham
thoại dẫn nhập” thì đó là một cặp thoại tích cực. “ Cặp thoại tích cực là những
cặp thoại bình thường và người ta có thể kết thúc cặp thoại đó ” [10. tr.328].
Cặp thoại trong hội thoại giao tiếp gi b sĩ với bệnh nhân ch yếu là cặp
thoại ch hướng và cặp thoại ph thuộc. Tính tích cực c a cặp thoại giao tiếp ở
đây đảm bảo cho hội thoại tuân th đúng theo
nguyên tắc sự luân phiên lượt
lời điều hành nội dung hội thoại và nguyên tắc lịch sự. Nhờ đó mà ả b sĩ với
bệnh nhân đều thỏ m n đí h gi o tiếp khi kết thúc hội thoại.
3.2.3. Cặp thoại giao dịch ngân hàng
Tiến hành khảo sát 50 cuộc thoại giao tiếp c a nhân viên Ngân hàng
Quân đội Hà Nội với khách hàng cặp thoại với cấu trúc hai tham thoại và cặp
thoại phức tạp.
3.2.3.1. Cặp thoại hai tham thoại
Giao tiếp gi a nhân viên ngân hàng với kh h hàng trong tư vấn hỗ
trợ các vấn đề về tài chính ngân hàng, cấu trúc cặp thoại hai tham thoại ch
yếu cặp chào – chào, hỏi – trần thuật. Cặp thoại chào – chào trong giao tiếp
18


Xemtailieu.com không chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề bản quyền tài liệu được thành viên tự nguyện đăng tải lên.