BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN
PHÁ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ SỰ
THAM GIA CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
VÀ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ SỰ THAM GIA CỦA
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ VIỆT NAM –
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 62 38 01 08
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HOÀNG PHƯỚC HIỆP

HÀ NỘI - 2014

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc
lập của cá nhân tôi. Nội dung cũng như các số liệu
trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực.
Những kết luận khoa học của luận án chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NCS. Nguyễn Thị Thu Hiền

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AB

Appellate Body - Cơ quan Phúc thẩm

ACWL

Advisory Centre on WTO Law – Trung tâm tư vấn về pháp
luật WTO

ADA

Anti-Dumping Agreement - Hiệp định về chống bán phá giá

ADC

Anti-Dumping Code - Bộ luật về chống bán phá giá

BPG

Bán phá giá

DSB

Dispute Settlement Body - Cơ quan giải quyết tranh chấp

DSM

Dispute Settlement Mechanism – Cơ chế giải quyết tranh
chấp

DSU

Understanding on rules and procedures governing the
settlement of disputes - Thoả thuận về các quy tắc và thủ tục
điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp

EC

European Communities – Cộng đồng Châu Âu

EU

European Union – Liên minh Châu Âu

GATT

General Agreement on Trade and Tariffs - Hiệp định chung về
thương mại và thuế quan

GATT 1947

Hiệp định chung về thương mại và thuế quan năm 1947

GATT 1994

Hiệp định chung về thương mại và thuế quan năm 1994

Nxb

Nhà xuất bản

USDOC

United States Department of Commerce – Bộ thương mại Hoa
Kỳ

VCCI

Vietnam Chamber of Commerce and Industry - Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

WTO

World Trade Organization - Tổ chức Thương mại thế giới

MỤC LỤC
Trang

1.
1.
1.
2.
1.
3.

2.
1.

2.
1.
2.
1.
2.
1.
2.
2.

2.
2.

C

Đ

T8
ì
T 1
ì 4
C 2
á 1
v

K 2
Ế 5
C 2
H 6
T
R
L
U
T
R
L 2
ị 6
q
u
W
T
G 2
i 6
G 2
i 7
G 2
i 9
Q 3
u 1
c
h
t
r
Q 3
u 1
t
r

MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN

8

2.
2.
2.
3.

2.
3.
2.
3.
2.
3.

2.
4.
2.
4.
2.
4.

3.
1
3.
1.

Q
u
d

N

d

W
T
D
S
q
u
Q
u
c
h
Q
u
p
h
p
h
N

t
r
P
h
g
i
N

á
p
W
T
K

C
H
C
H
T
H
V
À
T
h
g
i
S
ơ

4
2
4
4

4
4
5
9
6
2

6
4
6
4
7
6

7
8
8
0

8
0
8
0

3.
1.
3.
2.

3.
2.
3.
2.
3.
2.
3.
3.

4.
1.

4.
2.

4.
2.

b
á
T
h
c
á
T
h
g
i
n
h
T
h
c
h
T
h
t
r
T
h
c
h
T
h
c
h
K

C
H
N
Â
N
A
W
T
N
h
h
i
c
h
N
h
t
h
W
T
N
h
c


8
6
9
5

9
6
9
9
1
0
1
1
1
1
1
2

1
2

1
2

1
2

4.
2.

c
h
M

q
u
l
à
K

K

D
A
T
Á
C
Ô
D
A
P
H

1
3

1
4
1
4

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong thương mại quốc tế hiện nay, các tranh chấp về chống BPG ngày
càng trở nên phức tạp và phổ biến khi mà các biện pháp chống BPG đang được
nhiều quốc gia, trong đó chủ yếu là các nước phát triển, sử dụng như một rào cản
trong thương mại và bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa. Trong vòng 17 năm, tính
từ ngày 1/1/1995 cho tới ngày 30/06/2013, đã có tổng cộng 4.358 vụ điều tra
chống BPG mới được khởi xướng với 2.795 biện pháp chống BPG đã được áp
dụng bởi các thành viên WTO. Các vụ điều tra chống BPG và sử dụng các biện
pháp chống BPG của các thành viên WTO mặc dù không tăng nhiều về số lượng
nhưng chúng ngày càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn. Tính đến hết
tháng 12/2013, khoảng hơn 100 thành viên WTO đã có khung pháp lý về điều tra
chống BPG, trong số đó, có đến hơn nửa số thành viên mỗi năm khởi xướng ít
nhất 1 vụ điều tra chống BPG [64], và khoảng 70 thành viên WTO đã tiến hành
các vụ điều tra chống BPG trên thực tế [54]. Bởi vậy, trước thực trạng nói trên,
các thành viên WTO, bên cạnh việc tìm ra những giải pháp để đối phó với các
cuộc điều tra về chống BPG và việc áp thuế chống BPG, đã tích cực sử dụng
những cơ chế thích hợp để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Một
trong những cơ chế được đánh giá là có hiệu quả nhất hiện nay chính là DSM
của WTO.
Theo Điều 17 của ADA, các thành viên WTO có thể đưa các tranh chấp về
chống BPG ra giải quyết theo DSM của tổ chức này. Trên thực tế, tính đến hết
tháng 12/2013, 102 vụ tranh chấp về chống BPG đã và đang được giải quyết tại
WTO [78]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, qua hơn 19 năm tồn
tại, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng và DSM của WTO nói
chung đã bộc lộ một số điểm hạn chế và bất cập cần phải được hoàn thiện.

2

Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150
của WTO và được hưởng qui chế dành cho một thành viên đang phát triển. Kể từ
thời điểm đó, Việt Nam có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ và được hưởng sự đối xử
đặc biệt và khác biệt dành cho thành viên đang phát triển trong giải quyết tranh
chấp tại WTO để bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình. Tính đến hết tháng
12/2013, Việt Nam đã tham gia vào chín vụ tranh chấp về chống BPG trên tổng
số mười chín vụ kiện có sự tham gia của Việt Nam tại WTO [59]. Qua từng vụ
tranh chấp, Việt Nam, ở một mức độ nhất định, đã tham gia chủ động và tích cực
vào DSM của WTO. Tuy nhiên, sự tham gia đó vẫn còn những hạn chế bởi tính
phức tạp của các vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng như cơ chế điều
phối của chính Việt Nam.
Việc nghiên cứu pháp luật của WTO, cũng như yêu cầu chủ động và tích
cực hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động tham gia vào việc giải quyết các tranh
chấp quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra trong các văn kiện của Đảng và
Nhà nước như Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/04/2013 của Bộ Chính trị về
hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Hội nghị lần
thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về một số chủ trương, chính
sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên
của Tổ chức Thương mại thế giới; Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001
của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP của
Chính phủ ngày 27/02/2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ
thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW; Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg ngày
14/03/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ
thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW; Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/11/2012 của
Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tích
cực hội nhập quốc tế.

3

Bên cạnh đó, thực tiễn tham gia của Việt Nam trong các vụ tranh chấp về
chống BPG đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đối với việc nghiên cứu một cách
toàn diện pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG
tại WTO, học hỏi kinh nghiệm của các nước cũng như xây dựng cơ chế phối hợp
giữa các cơ quan có liên quan ở trong và ngoài nước, để từ đó, có thể đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết
tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Thực hiện các chủ trương mà Đảng đề ra, xuất phát từ thực tiễn tham gia
của Việt Nam vào việc giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng
như những yêu cầu cấp bách đặt ra cho Việt Nam v.v., cho thấy tính cấp thiết
cao, cả về lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấp
về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát
triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề: lịch sử hình thành,
phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tế trong giải quyết các tranh chấp về
chống BPG tại WTO; quan niệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấp
về chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống
BPG; nội dung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc
tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO; thực tiễn giải
quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG; thực tiễn tham gia của một số nước
đang phát triển và thực tiễn tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh
chấp về chống BPG tại WTO.
Tranh chấp về chống BPG và cơ chế giải quyết các tranh chấp này trong
khuôn khổ WTO là những vấn đề phức tạp và có phạm vi nghiên cứu rộng. Bởi
vậy, trong khuôn khổ hạn định về số trang đối với một luận án, tác giả sẽ chỉ tiến

4

hành: (1) phân tích lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc
tế trong giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO; (2) phân tích quan
niệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấp về chống BPG và pháp luật
quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG; (3) phân tích nội
dung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc tế áp dụng
trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, trong đó, tập trung vào
những điểm đặc thù của lĩnh vực giải quyết tranh chấp về chống BPG và phạm
vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB. Mặc dù có liệt
kê tất cả các phương thức giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO, tuy
nhiên, tác giả cũng sẽ chỉ chủ yếu phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp về
chống BPG tại DSB/WTO; (4) trình bày khái quát về thực tiễn giải quyết tranh
chấp tại WTO về chống BPG, tập trung phân tích kinh nghiệm và thực tiễn tham
gia vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG của ba nước Ấn Độ,
Trung Quốc, Thái Lan và thực tiễn của Việt Nam. Tác giả lựa chọn ba nước Ấn
Độ, Trung Quốc và Thái Lan bởi lẽ đây cũng là những nước đang phát triển,
cùng ở khu vực Châu Á, rất “tích cực” tham gia vào việc giải quyết tranh chấp
về chống BPG tại WTO, đồng thời có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về
các mặt hàng thường xuyên bị điều tra chống BPG, và một phần nào đó là về
điều kiện, hoàn cảnh phát triển kinh tế - xã hội.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận án sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp
tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh
và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đưa ra các giải pháp cụ
thể và khả thi. Trong khuôn khổ của Luận án này, phương pháp so sánh là

5

phương pháp chủ đạo được sử dụng trong hầu hết các chương, đặc biệt là
Chương 2 khi phân biệt khái niệm “tranh chấp về chống BPG” tại WTO với
khái niệm “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật
của quốc gia thành viên, đồng thời, tác giả cũng tiến hành phân biệt ba loại tranh
chấp liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi
với nhau trong khuôn khổ WTO, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp
về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”. Tương tự, phương pháp
kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn cũng được sử dụng xuyên suốt trong
toàn bộ nội dung của luận án. Phương pháp tổng hợp và phân tích được sử dụng
như những phương pháp bổ trợ cho phương pháp so sánh.
4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
thông qua việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề liên quan
tới giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, vị thế của các nước đang
phát triển cũng như làm rõ thực tiễn tham gia của các nước đang phát triển nói
chung và của Việt Nam nói riêng vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG,
để trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của
Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO.
Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích các quan điểm về chống BPG, tranh chấp về chống BPG cũng
như những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết
tranh chấp về chống BPG tại WTO;
- Tổng hợp, phân tích và đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống
BPG tại WTO, đi sâu vào phân tích một số vụ tranh chấp cụ thể và làm rõ những
điểm bất cập của việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ của
tổ chức này; đồng thời, phân tích và đánh giá thực tiễn tham gia của Ấn Độ,

6

Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống
BPG tại WTO, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Phân tích các quan điểm và định hướng cơ bản, từ đó, đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết
tranh chấp về chống BPG tại WTO.
5. Những kết quả nghiên cứu mới của Luận án
- Luận án đã phân biệt “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của
WTO với “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật
của quốc gia thành viên, đồng thời phân biệt ba loại tranh chấp theo pháp luật
của WTO liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần
gũi với nhau, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp về chống trợ cấp”
và “tranh chấp về tự vệ thương mại”, qua đó, làm rõ quan niệm hiện hành của
WTO đối với “tranh chấp về chống BPG”. Đây là những thuật ngữ thường dễ bị
nhầm lẫn trong quá trình sử dụng, bởi vậy, các kết quả nghiên cứu nói trên đã
góp phần làm sáng tỏ và giúp phân biệt rõ ràng những thuật ngữ này;
- Luận án đã làm rõ nội dung và điểm đặc thù của pháp luật quốc tế áp
dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG so với việc giải quyết các tranh
chấp thương mại quốc tế nói chung tại WTO;
- Luận án đã làm rõ mối quan hệ tương tác giữa giải quyết tranh chấp về
chống BPG theo pháp luật WTO và giải quyết tranh chấp về BPG theo pháp luật
quốc gia thành viên;
- Luận án đã làm rõ phạm vi và đặc điểm của bốn vấn đề tranh chấp về
chống BPG được giải quyết tại DSB, bao gồm tranh chấp về thuế chống BPG
chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp
về biện pháp tạm thời, và tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định
pháp luật của một quốc gia thành viên với nội dung của ADA;

7

- Luận án đã nhận định được xu hướng vận động và phát triển của pháp
luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO;
- Luận án đã làm sáng tỏ được thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống
BPG tại WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển; tổng hợp được kinh
nghiệm tham gia vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG của Ấn Độ,
Trung Quốc và Thái Lan; đồng thời Luận án cũng đã chỉ ra được thực trạng và
nguyên nhân sự tham gia hạn chế của các nước đang phát triển nói chung và Việt
Nam nói riêng vào quá trình giải quyết các tranh chấp này;
- Luận án, dựa trên cơ sở những kết quả phân tích và đánh giá khách quan,
đã nêu ra được những bài học kinh nghiệm và đưa ra được các giải pháp mới, có
tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào quá trình giải
quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, chủ yếu là những đề xuất cụ thể khi
Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hay bên thứ ba trong các
vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO.
6. Cấu trúc của Luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phần phụ lục. Nội dung luận án được bố cục thành bốn chương, có
kết luận của từng chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở các nước và ở Việt Nam
liên quan đến đề tài Luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận đối với tranh chấp về chống BPG và
pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG và sự
tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sự tham gia của
Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG.

8

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT
NAM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.

Tình hình nghiên cứu ở các nước
Ở các nước, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề giải quyết

tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước
đang phát triển. Điển hình trong số những tác giả và công trình nghiên cứu nói
trên phải kể đến: (i) J.G. Merrills (2011), International Dispute Settlement, 5th
ed., Cambridge University Press; (ii) James P. Durling (2002), Matthew R.
Nicely, Understanding the WTO Anti-Dumping Agreement: Negotiating History
and Subsequent Interpretation, Cameron May Ltd.,; (iii) David Palmeter, Petros
C. Mavroidis (2004), Dispute settlement in the World Trade Organization:
Practice and procedure, 2nd ed., Cambridge: Cambridge Univ.,; (iv) Peter Van
den Bossche (2008), The Law and Policy of the World Trade Organization: Text,
nd

Cases and Materials, 2 ed., Cambridge University Press; (v) Terence P. Stewart
(1993), The GATT Uruguay Round: A negotiating history (1986-1992), Volume
II: Commentary, Deventer: Kluwer Law and Taxation Publishers v.v.
Ngoài ra, còn có các tài liệu đăng trên các trang thông tin điện tử như tài
liệu về “Anti-dumping measures” trong khuôn khổ khóa học về “Dispute
Settlement – World Trade Organization” của Hội nghị của Liên hợp quốc về
thương mại và phát triển (UNCTAD); bài viết “The role of Public International
Law in the WTO: How far can we go?” của tác giả Joost Pauwelyn; bài viết
“Does WTO Dispute Settlement provide effective remedies for Anti-dumping
Measure” của tác giả Alam Mansoor; bài viết “WTO Dispute Settlement:
Challenges faced by developing countries in the implementation and
enforcement of DSB recommendations and rulings” của tác giả Jimcall

9

Pfumorodze; bài viết “Developing Countries and General Agreement on Tariffs
and Trade/World Trade Organization Dispute Settlement” của các tác giả Marc
L. Busch và Eric Reinhardt; bài viết “Developing Countries and Dispute
Settlement: Having One’s Day in Court;” của tác giả Roderick Abbott; bài viết
“Developing Countries and the Initiation of GATT/WTO Disputes” của tác giả
Todd Allee; bài viết “The WTO Dispute Settlement System: How have
Developing Countries fared?” của tác giả William J. Davey; bài viết “Shifting
Coordinates of India’s Stance at the WTO: Understanding the Domestic and
International Economic Drivers” của tác giả Amit Shovon RAY; bài viết
“China's WTO entry: Antidumping, Safeguards, and Dispute Settlement” của tác
giả Chad P. Bown; sách tham khảo “Dispute Settlement at the WTO: The
Developing country experience” của các tác giả Gregory C. Shaffer và Ricardo
Meléndez-Ortiz; bài viết “China: How to Fight the Antidumping War?” của tác
giả Jason Z. Yin; bài viết “Dispute Settlement in the WTO and the Least
Developed Countries: the Case of India’s Anti-Dumping Duties on Lead Acid
Battery Import from Bangladesh” của tác giả M. A. Taslim; bài viết “Sense and
Sensibilities of China and WTO Dispute Settlement” của tác giả Marcia Don
Harpaz; bài viết “The WTO Dispute Settlement Understanding from a
Developing Country Perspective: The Example of Thailand” của tác giả Mickey
J. Wheatley; bài viết “China in the WTO: Antidumping and Safeguards” của tác
giả Patrick A. Messerlin; bài viết “India at Dispute Settlement Understanding”
của tác giả Simi T.B v.v. Bên cạnh đó, một số tài liệu đã được dịch sang tiếng
Việt như cuốn “Sổ tay về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO”, bản dịch
của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế xuất bản năm 2006 v.v.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập, ở những mức
độ chi tiết khác nhau, về:

10

Một là, lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế và việc áp
dụng pháp luật đó trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá tại WTO. Có
nhiều công trình nghiên cứu ở các nước về vấn đề này, trong đó, điển hình là một
số công trình nghiên cứu như cuốn “The GATT Uruguay Round: A negotiating
history (1986-1992), Volume II: Commentary” của Terence P. Stewart; cuốn
“Understanding the WTO Anti-Dumping Agreement: Negotiating History and
Subsequent Interpretation” của James P. Durling và Matthew R. Nicely; cuốn
“Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure”
của David Palmeter và Petros C. Mavroidis; giáo trình “The Law and Policy of
the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den
Bossche; và cuốn sách dịch “Sổ tay về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO”
của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế v.v. Nhìn chung, các công trình
nghiên cứu nói trên chủ yếu phân tích lịch sử của pháp luật quốc tế áp dụng
trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO bắt đầu từ sự ra đời và trên
cơ sở kế thừa và phát triển pháp luật của GATT 1947, có phân chia thành các
giai đoạn cụ thể tương ứng với những cột mốc quan trọng (trước và sau khi có
GATT 1947 và sự ra đời của WTO, các bản ADC, ADA và DSU v.v), đồng thời
có đánh giá xu hướng vận động và phát triển của lĩnh vực pháp luật này. Tuy
nhiên, các tác giả mới chỉ phân tích, một cách riêng rẽ, lịch sử hình thành và phát
triển của các yếu tố cấu thành lên pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết
tranh chấp về chống BPG tại WTO, chủ yếu là DSU và ADA, mà chưa đặt
chúng trong một bức tranh tổng thể của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải
quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.
Hai là, các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh
chấp tại WTO. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể nhắc tới như cuốn
“Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure”

11

của Palmeter, N. David; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade
Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; bài viết
“The role of Public International Law in the WTO: How far can we go?” của
Joost Pauwelyn đăng trên tạp chí “The American Journal of International Law”,
VOL. (95):3 v.v. Mặc dù vẫn còn có những quan điểm khác nhau về số lượng,
tên gọi, vị trí, vai trò đối với từng loại nguồn, nhưng nhìn chung, trong những
nghiên cứu của các học giả trên thế giới, việc xác định các loại nguồn của pháp
luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp tại WTO, cơ bản cũng đều dựa
trên cách xác định nguồn luật áp dụng truyền thống theo Điều 38(1) của Qui chế
Tòa án Công lý Quốc tế và có tính tới cả những đặc thù của WTO.
Ba là, DSM của WTO với những vấn đề chung như hệ thống các nguyên
tắc, các cơ quan tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp, các phương thức
giải quyết tranh chấp, các loại khiếu kiện trong những tranh chấp được giải quyết
tại WTO (khiếu kiện vi phạm, khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện tình
huống); các bên nguyên đơn, bị đơn, bên thứ ba và các tổ chức, cá nhân khác
trong vụ tranh chấp tại WTO; trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại WTO với
bốn giai đoạn bao gồm tham vấn, xét xử tại Ban hội thẩm, kháng cáo và xét xử
phúc thẩm và giai đoạn thực thi quyết định của DSB; vấn đề bảo mật và qui tắc
đạo đức nghề nghiệp trong giải quyết tranh chấp nói chung tại WTO v.v. Đây là
nội dung đã được những công trình nghiên cứu ở các nước đề cập và phân tích
một cách tương đối chi tiết và toàn diện, trong số đó có thể kể tới cuốn sách
“WTO disputes: anti-dumping, subsidies and safeguards” của Edwin A.
Vermulst, Folkert Graafsma; cuốn sách “Dispute settlement in the World Trade
Organization: Practice and procedure” của David Palmeter và Petros C.
Mavroidis; cuốn sách “Key issues in WTO dispute settlement: the first ten years”
của Rufus Yerxa và Bruce Wilson; giáo trình “The Law and Policy of the World

12

Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche;
cuốn sách “International Dispute Settlement” của J.G. Merrills; cuốn sách dịch
“Sổ tay về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO” của Ủy ban Quốc gia về
Hợp tác kinh tế quốc tế v.v.
Bốn là, chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt trong DSM của WTO dành cho
các nước đang phát triển. Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở các
nước như cuốn sách “Dispute settlement in the World Trade Organization:
Practice and procedure” của David Palmeter và Petros C. Mavroidis; giáo trình
“The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and
Materials” của Peter Van den Bossche v.v. . Ngoài việc phân tích nội dung chế
độ đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển trong giải
quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng, các
công trình nghiên cứu nói trên còn có sự đánh giá về tính khả thi của những đối
xử đặc biệt và khác biệt này. Phần lớn các ý kiến đều cho rằng, chế độ đối xử đặc
biệt và khác biệt chỉ mang tính hình thức và không mang lại hiệu quả thiết thực
trong việc thúc đẩy và trợ giúp các nước đang phát triển khi tham gia vào quá
trình giải quyết tranh chấp tại WTO.
Năm là, quan niệm của WTO về chống BPG và pháp luật của WTO về
chống BPG. Đây là vấn đề đã được nghiên cứu tương đối chi tiết và đầy đủ ở các
nước, với một số công trình nghiên cứu điển hình như cuốn “Understanding the
WTO

Anti-Dumping

Agreement:

Negotiating

History

and

Subsequent

Interpretation” của James P. Durling và Matthew R. Nicely; giáo trình “The Law
and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của
Peter Van den Bossche; các tài liệu sử dụng trong khóa học “Dispute Settlement
– World Trade Organization” của UNCTAD với chủ đề “Anti-dumping
measures” và tài liệu đào tạo về “The WTO Agreement on Anti-dumping” v.v.


Tài liệu liên quan
Xemtailieu.com không chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề bản quyền tài liệu được thành viên tự nguyện đăng tải lên.