HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐỖ THỊ HƯỜNG

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2020

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐỖ THỊ HƯỜNG

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 9 38 01 06

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS VŨ HỒNG ANH

HÀ NỘI - 2020

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích
dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả luận án

Đỗ Thị Hường

MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC

8

1.1. Những công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về môi trường nước
và bảo vệ môi trường nước

8

1.2. Những công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về hoàn thiện
pháp luật bảo vệ môi trường nước

17

1.3. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

26

1.4. Giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và khung phân tích lý thuyết

26

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG NƯỚC

29

2.1. Pháp luật và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước

29

2.2. Vai trò và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi
trường nước

43

2.3. Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở một số quốc gia trên
thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam

50

Chương 3: THỰC TRẠNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

65

3.1. Môi trường nước và quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ
môi trường nước ở Việt Nam

65

3.2. Đánh giá thực trạng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở
Việt Nam hiện nay

76

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

129

4.1. Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi
trường nước ở Việt Nam hiện nay

129

4.2. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước

136

4.3. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở
Việt Nam

142

KẾT LUẬN

163

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

166

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

167

PHỤ LỤC

181

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật Hình sự

BVMT

Bảo vệ môi trường

BVMTN

Bảo vệ môi trường nước

KT-XH

Kinh tế - xã hội

LVS

Lưu vực sông

MTN

Môi trường nước

ONMT

Ô nhiễm môi trường

ONMTN

Ô nhiễm môi trường nước

TNMT

Tài nguyên và môi trường

TNN

Tài nguyên nước

VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật

VPPL

Vi phạm pháp luật

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi
trường nước ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành lý luận
và lịch sử nhà nước và pháp luật xuất phát từ những yêu cầu sau:
Thứ nhất, yêu cầu về lý luận.
Nước là một trong những yếu tố quan trọng của môi trường sống, ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động sinh sống và sản xuất của con người. Hiện nay,
môi trường nước (MTN) đang là vấn đề toàn cầu, hầu hết các nhà khoa học,
các nhà quản lý đều cho rằng: nước là tài nguyên quý giá nhất trong thế kỷ
XXI, an ninh nguồn nước sẽ còn quan trọng hơn cả an ninh lương thực, nước
có thể là nguyên nhân của các cuộc chiến tranh toàn cầu. Vì vậy, bảo vệ môi
trường nước (BVMTN) là nhiệm vụ cấp bách của nhiều quốc gia trên thế giới,
được đưa vào chiến lược bảo vệ môi trường (BVMT) và phát triển bền vững
quốc gia.
Ở Việt Nam, công tác BVMT nói chung, MTN nói riêng đã được Đảng,
Nhà nước đặc biệt quan tâm. Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, Đảng khẳng định “BVMT phải là trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân” [41, tr.42],
nhằm “Hạn chế, tiến tới ngăn chặn căn bản tình trạng ô nhiễm môi trường
(ONMT) tại các làng nghề, lưu vực sông (LVS), khu và cụm công nghiệp, khu
đô thị và khu dân cư tập trung ở nông thôn” [42, tr.306], trong đó phải chú
trọng “bảo vệ môi trường” [40, tr.194]. Trên tinh thần đó, nhiều văn bản pháp
luật về BVMT cũng đã được ban hành và tổ chức thực hiện như Luật BVMT
năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2018 (Luật số 35/2018/QH14 ngày 20 tháng
11 năm 2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy
hoạch)) (Luật BVMT năm 2014), Luật Tài nguyên nước (TNN) năm 2012 (sửa
đổi, bổ sung năm 2018 (Luật số 35/2018/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2018

2
của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy
hoạch)) (Luật TNN năm 2012), Luật Đa dạng sinh học năm 2008; Luật Khoáng
sản năm 2010; Luật Thủy lợi năm 2017... Trong đó, quan điểm chỉ đạo xuyên
suốt là BVMTN gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), BVMTN để
phát triển bền vững; BVMTN là “quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi
gia đình và của mỗi người”. Thông qua việc thực hiện những chủ trương của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, công tác BVMTN đã có những
chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào phát triển KT-XH bền vững.
Thứ hai, yêu cầu về thực tiễn.
Trong thời gian qua, Việt Nam đặc biệt quan tâm đến hoạt động hoàn
thiện pháp luật về BVMTN nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước. Tuy nhiên, pháp luật về BVMTN ở Việt Nam vẫn bộc lộ ra những hạn
chế, như: sự thiếu thống nhất giữa quy định của Luật BVMT với Luật TNN,
Luật Khoáng sản; những bất cập trong các quy định pháp luật về điều tra, đánh
giá hiện trạng xả thải, khả năng tiếp nhận chất thải của các nguồn nước và khả
năng phục hồi của các nguồn nước; bất cập trong quy định về liên quan đến
việc sử dụng các công cụ kinh tế cho mục đích BVMTN như các quy định
thuế, phí BVMT đối với nước thải; bất cập trong quy định về các công cụ và
biện pháp quản lý nhà nước về BVMTN, các quy định về xả thải và xử lý chất
thải đưa vào nguồn nước chưa phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước về
BVMTN; Chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan, tổ chức trong BVMTN chưa
được quy định rõ ràng, còn có sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, chế tài xử
lý vi phạm pháp luật (VPPL) về BVMTN còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe, v.v..
Những lỗ hổng trong các quy định pháp luật này là một trong những nguyên
nhân khiến cho những vụ ô nhiễm MTN vẫn diễn ra trong thực tế; các biện
pháp khắc phục hậu quả của các vụ ONMTN chưa được thực hiện triệt để gây
bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước sinh hoạt, sản xuất của
nhân dân. Ví dụ, vụ Công ty Vedan xả thải ra sông Thị Vải, vụ nước nhiễm
Asen ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng, vụ ô nhiễm gây chết cá hàng loạt ở

3
Miền Trung, v.v... Vì vậy, hiện nay và trong tương lai, Việt Nam hiện vẫn đang
phải đối mặt với những vấn đề lớn về BVMTN, do đó, đáp ứng yêu cầu phát
triển KT-XH bền vững, pháp luật về BVMTN ở Việt Nam cần phải tiếp tục
được hoàn thiện.
Chính vì những lý do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện
pháp luật về bảo vệ môi trường nước ở Việt Nam hiện nay” thực sự có ý
nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án có mục tiêu là luận chứng khoa học cho việc đề xuất giải pháp
hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở Việt Nam trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về BVMTN. Trong đó,
luận án tập trung làm rõ: khái niệm, nội dung cũng như tiêu chí hoàn thiện pháp
luật về BVMTN.
- Nghiên cứu những quy định pháp luật về BVMTN ở một số nước trên
thế giới, rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
- Phân tích các dẫn chứng và số liệu để đánh giá thực trạng hoàn thiện
pháp luật về BVMTN ở Việt Nam trong thời gian qua. Trong đó, luận án tập
trung đánh giá mức độ hoàn thiện của các quy định pháp luật về BVMTN so
với yêu cầu BVMTN hiện nay.
- Xác lập quan điểm, đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp
luật về BVMTN ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các quan điểm, lý thuyết về
BVMT, BVMTN; quy định của Hiến pháp và pháp luật về BVMT nói chung,
BVMTN nói riêng; các công trình nghiên cứu khoa học về BVMT, BVMTN
trong và ngoài nước; các số liệu, dẫn liệu, thông tin của cơ quan quản lý nhà

4
nước về BVMT, các tổ chức xã hội, báo chí, cơ quan truyền thông về các vấn
đề liên quan đến MTN.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
- Về nội dung: Luận án phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện
pháp luật về BVMTN ở Việt Nam. Trong đó, luận án tập trung phân tích, đánh
giá các quy định pháp luật về BVMTN ở Việt Nam từ 2015 đến nay, chỉ ra
những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của những hạn
chế trong quá trình hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở Việt Nam thời gian qua,
làm cơ sở đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở Việt
Nam trong thời gian tới.
- Về không gian: Luận án chủ yếu đánh phân tích, đánh giá các quy định
pháp luật về BVMTN do Quốc hội, Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ ban
hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về BVMTN.
- Về thời gian: Luận án phân tích, đánh giá thực trạng hoàn thiện pháp
luật về BVMTN từ ngày 01/01/2015 (từ khi Luật BVMT năm 2014 có hiệu
lực) đến nay và đề xuất giải pháp hoàn thiện hoàn thiện pháp luật về BVMTN
cho những năm tiếp theo.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nội dung đề
tài. Hệ thống quan điểm của Học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật nói chung và lý luận về BVMTN, các quan điểm chỉ
đạo của Đảng ta hiện nay về BVMT nói chung và BVMTN nói riêng và về
hoàn thiện pháp luật, cũng như các quan điểm về xây dựng và thực hiện pháp
luật trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trên cơ sở phương pháp luận nói trên, luận án sẽ sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể sau:

5
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nghiên cứu sinh sử dụng phương
pháp này để giải quyết những nội dung sau:
+ Phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề
hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở Việt Nam hiện nay, từ đó chỉ rõ những kết
quả đã nghiên cứu được, những khoảng trống luận án cần tiếp tục phải nghiên
cứu và làm rõ;
+ Phân tích, tổng hợp các quan điểm, các lý thuyết, các quy định pháp
luật để xây dựng cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở Việt Nam
hiện nay;
+ Phân tích, tổng hợp thực tiễn hoàn thiện pháp luật về BVMT ở một số
nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
+ Phân tích các văn bản luật hiện hành về BVMTN ở Việt Nam để chỉ rõ
những hạn chế về nội dung và hình thức của các văn bản đó;
+ Phân tích, tổng hợp các số liệu, báo cáo, các công trình nghiên cứu,
các quy định pháp luật Việt Nam về BVMTN, để từ đó chỉ rõ những kết quả
đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong quá trình
hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở Việt Nam.
- Phương pháp khái quát hoá: Nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp
này để đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở
Việt Nam trong thời gian tới.
- Phương pháp luật học so sánh: Phương pháp này được nghiên cứu sinh
sử dụng để so sánh thực tiễn hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở một số quốc
gia trên thế giới, từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện
nay. Ngoài ra, nghiên cứu sinh còn sử dụng phương pháp này so sánh mức độ
hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở Việt Nam qua các thời kỳ để từ đó, thấy
được sự hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở Việt Nam trong suốt quá trình xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Phương pháp logic-lịch sử: Phương pháp này được nghiên cứu sinh sử
dụng để phân tích, đánh giá thực trạng hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở Việt

6
Nam theo tiến trình lịch sử xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam từ năm 1945 đến nay; đồng thời, phương pháp này được nghiên cứu sinh
sử dụng để chỉ rõ những yêu cầu hiện nay đối với hoàn thiện pháp luật về
BVMTN ở Việt Nam và đưa ra các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp
luật về BVMTN ở Việt Nam phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH trong thời
gian tới của nước ta.
- Phương pháp hệ thống: Nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp này
nhằm phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về BVMTN ở Việt Nam hiện
nay trong mối tương quan với tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam, để từ đó
chỉ rõ tính thống nhất, toàn diện và hợp hiến, hợp pháp của các quy định này.
5. Những điểm mới của luận án
So với các công trình nghiên cứu trước đây, luận án có những điểm mới:
Thứ nhất, luận án kế thừa, tổng hợp kết quả nghiên cứu của các công
trình khoa học đã công bố, bổ sung vào hệ thống lý luận về BVMTN.
Thứ hai, luận án phân tích thực tiễn hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở
một số quốc gia trên thế giới và rút ra những kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam.
Thứ ba, luận án phân tích, đánh giá thực trạng hoàn thiện nội dung và
hình thức pháp luật về BVMTN tại Việt Nam trong thời gian qua.
Thứ tư, luận án đề ra phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục hoàn
thiện pháp luật về BVMTN ở Việt Nam trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Trên cơ sở nghiên cứu kế thừa các tài liệu đã có của Việt Nam và các
nước trên thế giới, luận án sẽ bổ sung thêm lý luận hoàn thiện pháp luật về
BVMTN, như: khái niệm, đặc điểm, nội dung hoàn thiện pháp luật về BVMTN
và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về BVMTN.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ góp phần tổng kết thực tiễn, đánh giá
toàn diện và sâu sắc về BVMTN ở Việt Nam, đồng thời đánh giá đầy đủ mức

7
độ hoàn thiện pháp luật về BVMTN ở nước ta trong thời gian qua, qua đó, chỉ
ra những ưu điểm và hạn chế trong pháp luật về BVMTN ở nước ta, để từ đó
luận chứng các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về BVMTN đáp ứng yêu
cầu phát triển KT-XH nhanh, bền vững của Việt Nam trong thời gian tới.
Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học để giúp Đảng và Nhà
nước hoạch định chủ trương, chính sách nhằm hoàn thiện pháp luật về
BVMTN ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu nghiên cứu, tham
khảo về lĩnh vực BVMTN và pháp luật về BVMTN.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết, cụ thể là:
Chương 1: Tổng quan công trình nghiên cứu liên quan đến hoàn thiện
pháp luật về bảo vệ môi trường nước
Chương 2: Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước
Chương 3: Thực trạng hoàn thiện pháp luận về bảo vệ môi trường nước
ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi
trường nước ở Việt Nam hiện nay

8
Chương 1
TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT
NAM VỀ MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC

1.1.1. Những công trình nghiên cứu về môi trường nước trên thế
giới và ở Việt Nam
Nước là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, con người sẽ không thể tồn
tại nếu các chức năng sống của cơ thể không thể điều hòa do thiếu nước. Do
vậy, “quyền có nước sạch” là quyền cơ bản của con người được hệ thống
luật nhân quyền quốc tế ghi nhận và bảo vệ. Theo đó, các nhà nước có nghĩa
vụ phải thực hiện các biện pháp nhằm tạo ra những điều kiện, quy tắc, dự án
đầu tư thích hợp cải thiện tình trạng cung cấp nước sạch cho người dân. Các
công trình đã đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận, khái niệm TNN được xác định là một khái niệm đa
chiều, “Nó không chỉ giới hạn ở các khía cạnh vật lý bao gồm các yếu tố
thủy văn; dòng chảy, tốc độ chảy của dòng nước mà còn bao gồm các khía
cạnh liên quan đến chất lượng nguồn nước, các yếu tố liên quan đến môi
trường, kinh tế và xã hội khác” [164]. Khi đề cập đến TNN đa số các báo
cáo, các công trình nghiên cứu đều tập trung vào đánh giá các đặc trưng liên
quan đến yếu tố vật lý và định lượng của các nguồn nước. Theo đó các báo
cáo của tổ chức Lương thực thế giới FAO thường đề cập đến “TNN tái tạo”
và “TNN không tái tạo”. Trong đó “TNN tái tạo tự nhiên là tổng lượng TNN
của một quốc gia (tài nguyên bên trong và bên ngoài), cả nước mặt và nước
ngầm, được tạo ra thông qua chu trình thủy văn” [164]. TNN tái tạo được
tính toán trên cơ sở chu trình nước. Báo cáo của FAO về TNN tái tạo dựa
trên dòng chảy trung bình hàng năm của các con sông, các nguồn nước mặt
và nước ngầm [164]. TNN tái tạo lại được chia thành “tài nguyên tái tạo nội

9
bộ”, “tài nguyên tái tạo bên ngoài” hay “tài nguyên tái tạo tự nhiên” và “tài
nguyên tái tạo thực tế”. Tài nguyên tái tạo bên ngoài dựa trên lượng dòng
chảy dành cho các quốc gia thượng nguồn và hạ nguồn thông qua các hiệp
định hoặc hiệp ước chính thức hoặc không chính thức. Khác với TNN tái tạo
tự nhiên, TNN tái tạo thực tế thay đổi theo thời gian và mô hình tiêu thụ do
đó phải tính trong khoảng thời gian nhất định thường là năm [164]. Không
giống với “TNN tái tạo”, “TNN không tái tạo” được hiểu là “các khối nước
ngầm (tầng ngậm nước sâu) có tỷ lệ nạp lại không đáng kể trên quy mô thời
gian và thường được coi là không thể tái tạo” [164].
Ngoài khái niệm về tài nguyên nước, khái niệm “Nước cho môi trường”
(Water for the environment/ environmental water) cũng thường được đề cập
trong pháp luật của các quốc gia hay trong các công trình nghiên cứu liên quan
đến nước. Khái niệm này thường được hiểu là “một phần của tổng TNN trong
một hệ thống nhất định duy trì tài sản hệ sinh thái phụ thuộc vào nước và các
quá trình sinh thái xác định sức khỏe của hệ thống đó” [159]. Khái niệm nước
cho môi trường không chỉ đề cập đến trữ lượng nước, tổng lượng nước mà còn
đề cập đến trữ lượng nước trong thời gian, chất lượng nước để duy trì hệ sinh
thái, sinh kế của con người phụ thuộc vào hệ sinh thái này.
Theo Tuyên bố Brisbane 2007:
Đối với hệ thống nước mặt, nước cho môi trường không chỉ đơn
giản là vấn đề số lượng; đó là một phạm trù được xác định bằng
chất lượng của các nguồn nước, thời gian và chất lượng nước cần
thiết để duy trì hệ sinh thái nước ngọt, cửa sông và sinh kế; hạnh
phúc của con người phụ thuộc vào các hệ sinh thái này…Trong
các hệ thống nước ngầm, nước cho môi trường thường ít được hiểu
rõ, tuy nhiên, nó thường được công nhận rằng sức khỏe của hệ
thống nước ngầm không chỉ phụ thuộc vào lượng nước mà còn
phụ thuộc vào thời gian, chất lượng và vị trí của nước [159].

10
Như vậy, khái niệm TNN, nước cho môi trường nhấn mạnh đến các đặc
trưng về dòng chảy, tổng lượng nước và chất lượng nguồn nước. Theo đó, các
biện pháp bảo vệ TNN, nước cho môi trường thường rất đa dạng nó phụ thuộc
vào từng quốc gia, khu vực do hoạt động này chịu sự ảnh hưởng của các yếu
tố như nguồn lực tài chính, đặc trưng chính trị, nguồn nhân lực [159].
Khác với TNN hay nước cho môi trường, MTN là một khái niện có
phạm trù hẹp hơn. Các ngành khoa học nghiên cứu về MTN (Water
Environment) có đối tượng nghiên cứu là các lĩnh vực công nghệ liên quan
đến chất lượng nước và khả năng phục hồi của nguồn nước [176]. Ở Việt
Nam, theo Luật BVMT năm 2014 quy định: “Môi trường là hệ thống các
yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát
triển của con người và sinh vật. Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo
thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và
các hình thái vật chất khác” (Khoản 1,2 Điều 3). Do vậy, khái niệm MTN
thường được dùng để chỉ các yếu tố thành phần của nước bao gồm yếu tố vật
lý, sinh học, hóa học nhằm tạo ra một môi trường phù hợp cho các loài thủy
sinh cũng như phù hợp với từng mục đích sử dụng nước của con người. Khi
đánh giá MTN, các khái niệm thường được sử dụng là chất lượng nước, ô
nhiễm môi trường nước (ONMTN).
Khái niệm chất lượng nước thường được sử dụng để chỉ các đặc trưng
của nước thông qua các thông số vật lý, sinh học và hóa học theo các tiêu
chuẩn chất lượng khác nhau tùy theo mục đích sử dụng. “Việc đánh giá chất
lượng nước đòi hỏi phải sử dụng lưới chất lượng nước, xác định các lớp chất
lượng theo một số tiêu chí và biến số” [164].
Thông thường, các nhà quản lý sẽ dựa trên nghiên cứu khoa học để
đặt ra các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nước nghĩa là đánh giá mức độ
không gây nguy hiểm cho cơ thể con người, các loài thủy sinh sinh sống
trong môi trường nước và/hoặc áp đặt các hạn chế đối với việc sử dụng

11
nước, theo mục đích sử dụng. Theo đó, có nhiều tiêu chí khác nhau để đánh
giá chất lượng nước theo từng mục đích sử dụng như: mức độ an toàn với
nước uống, nước cho sử dụng công nghiệp như nước làm mát cho nồi hơi,
nước dùng cho nông nghiệp, nuôi cá, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản tự
nhiên hệ sinh thái. Việc thiết lập tiêu chuẩn chất lượng nước phụ thuộc vào
mục đích sử dụng cũng như những cân nhắc về kỹ thuật và kinh tế. Bởi việc
đánh giá chất lượng nước thông qua việc ban hành một tiêu chuẩn đối với
các nguồn nước đòi hỏi những công nghệ tương ứng để có thể đo nồng độ
hoặc xác định các thành phần khác [180]. Do đó, tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng nước thường xuyên thay đổi do các tiêu chuẩn sẽ có thể được đánh giá
khoa học định kỳ và có thể được sửa đổi nếu cần thiết [180].
Khái niệm ONMTN thường được hiểu “là sự thay đổi theo chiều xấu
đi các tính chất vật lý - hoá học - sinh học của nước, với sự xuất hiện các
chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và
sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước” [79]. Theo F.D., Owa
(2013) nước được cho là ô nhiễm khi các thành phần hoặc các điều kiện hiện
tại của nước ở mức độ mà nước không thể được sử dụng cho một mục đích
nào đó [171], còn Olaniran (1995) định nghĩa “ô nhiễm nước là sự hiện diện
quá mức số lượng của một mối nguy hiểm (chất ô nhiễm) trong nước theo
cách mà nó không còn thích hợp để uống, tắm rửa, nấu ăn hoặc cho mục
đích sử dụng khác” [171]. Ở Việt Nam, Luật TNN năm 2012 quy định:
“ONMT là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với
quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu
đến con người và sinh vật” (Khoản 8, Điều 3). Tác giả P. K. Goel (2011) chỉ
ra rằng nước có thể bị ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm dầu và ô nhiễm nhiệt. Các
nguồn gây ô nhiễm nước như thuốc trừ sâu được sử dụng trong nông nghiệp,
kim loại nặng, Nuclide phóng xạ và các chất độc hại, các loại tảo gây hại
được sinh ra từ các nguồn nước thải trong các ngành công nghiệp [172]. Tại

12
Việt Nam, Báo cáo môi trường Việt Nam từ năm 2018 đã chỉ ra rằng có 4
nguồn thải chính tác động đến MTN mặt ở nước ta: nước thải nông nghiệp,
công nghiệp, sinh hoạt và y tế. Mức độ gia tăng các nguồn nước thải hiện
nay ngày càng lớn với quy mô rộng ở hầu hết các vùng miền trong cả nước.
MTN mặt ở hầu hết các đô thị và ở nhiều lưu vực sông nước ta đều bị ô
nhiễm các chất hữu cơ… hàm lượng các chất ô nhiễm trên các dòng sông
khu vực nội thị đều vượt chỉ số giới hạn tối đa cho phép đối với nguồn nước
loại B từ 2-6 lần. Hàm lượng chất hữu cơ và Coliform ở hầu hết các sông
chảy qua các đô thị và các khu công nghiệp đều vượt giới hạn tối đa cho
phép, nhiều nơi cao hơn tới 2-3 lần [15, tr.102]. Nhiều sự cố MTN đã xảy
ra, như: Giai đoạn 2006-2008 sự cố MTN khiến hàng loạt cá trên sông Thị
Vải chết do Công ty Vedan xả trộm nước, chất thải chưa qua xử lý vào môi
trường. Năm 2015 Nhà máy Yến xào Khánh Hòa và Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Cam Ranh xả thải trực tiếp ra môi
trường gây ô nhiễm nặng nước sông khiến thủy sản nuôi trồng tại thôn Hiệp
Thanh, xã Cam Thịnh Đông Khánh Hòa chết hàng loạt. Năm 2016, Nhà
máy Mía đường Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình, thượng nguồn sông Bưởi) xả
thải gây ô nhiễm hạ lưu sông Bưởi khiến hàng loạt cá trên dòng sông này bị
chết. Cũng trong năm 2016 sự cố ONMT biển do Công ty trách nhiệm hữu
hạn Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh thuộc khu kinh tế Vũng
Áng (Hà Tĩnh) gây ra khiến ngư dân tại 4 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế chịu thiệt hại nặng nề. Không chỉ ô nhiễm
nước tại các lưu vực sông, các sự cố tràn dầu tiếp tục xảy ra phổ biến tại
các khu vực ngoài khơi và ven biển. Hàng năm, trung bình có khoảng 5-6
vụ tràn dầu lớn được ghi nhận, do đó ONMT biển cũng đang là vấn đề
đáng quan ngại hiện nay.
Ô nhiễm môi trường nước đã và đang là nguyên nhân chính dẫn đến
các bệnh về đường tiêu hóa như: tiêu chảy, lỵ và một số bệnh về máu, ung

13
thư, bệnh về da. Các nghiên cứu tại nước ta những năm qua cho thấy hậu
quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là “tỉ lệ người chết do các bệnh liên
quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư ngày càng
tăng lên. Ngoài ra, tỷ lệ trẻ em tử vong tại các khu vực bị ô nhiễm nguồn
nước là rất cao” [15, tr.70] và “80% trường hợp bệnh lỵ và tiêu chảy là do
nguồn nước bị ô nhiễm gây ra, chủ yếu ở các địa phương nghèo. Đã có
những trường hợp bị tử vong do sử dụng nước bẩn và ô nhiễm (chủ yếu là
trẻ em)” [15, tr.69].
Những nghiên cứu về MTN trong và ngoài nước đã cho thấy, MTN có
vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người; ONMTN đã và đang
tác động nghiêm trọng đến cuộc sống của con người.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về bảo vệ môi trường nước
trên thế giới và ở Việt Nam
Bảo vệ môi trường nước là việc làm từ lâu đã được các quốc gia trên
thế giới quan tâm thực hiện. Cho đến nay, rất nhiều các công trình nghiên
cứu liên quan đến việc BVMTN đã được công bố dưới nhiều cách tiếp cận
khác nhau.
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về lý luận BVMTN.
Việc ô nhiễm các nguồn nước đã và đang khiến cho cuộc sống của các
loài thủy sinh cũng như là cuộc sống của con người ngày càng bị tác động
theo chiều hướng xấu đi. Do vậy các biện pháp quản lý môi trường, bảo vệ
các nguồn nước tránh bị ô nhiễm ngày càng được cộng đồng quốc tế và các
quốc gia quan tâm thực hiện. Các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý thường đề
cập đến các biện pháp để quản lý, khai thác, bảo vệ tài nguyên nước,
BVMTN. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu của Australia, các hoạt
động quản lý nước cho môi trường là những hoạt động hướng đến mục tiêu
“mang lại triển vọng dài hạn tốt nhất để duy trì tài sản hệ sinh thái phụ thuộc
vào nước cũng như mang lại kết quả tốt nhất cho các quá trình sinh thái, nền

14
kinh tế hay các giá trị văn hóa xã hội dựa vào sức khỏe của hệ thống” [159].
Tại Australia quản lý nước cho môi trường được thực hiện thông qua việc
đặt ra khuôn khổ cho việc quy hoạch tất cả các nguồn nước được sử dụng
trong một lưu vực, hoặc tầng chứa nước nhất định” [159].
Như vậy, khái niệm về bảo vệ tài nguyên nước hay bảo vệ nước cho
môi trường thường có nội hàm rộng lớn hơn rất nhiều so với BVMTN. Vì
nó không chỉ là các hoạt động bảo vệ chất lượng của các nguồn nước, khả
năng phục hồi của các nguồn nước theo một loại tiêu chuẩn nào đó mà còn
là các hoạt động hướng đến bảo vệ khai thác, sử dụng hợp lý trữ lượng các
nguồn nước.
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu hay các nhà quản lý chưa đưa ra một
khái niệm rõ ràng và thống nhất về BVMT. Thông thường, hoạt động được
đề cập là quản lý để phòng chống, khắc phục hiện tượng ONMTN. Theo
Richard Helmer and Ivanildo Hespanhol (1997), thì: Quản lý ô nhiễm nước
đòi hỏi một định nghĩa ngắn gọn về các hoạt động cũng như vấn đề cần quản
lý trong đó bao gồm việc: 1) Công nhận, đánh giá chất lượng nước; 2) Đảm
bảo thu được thông tin hữu ích cho phép nhận dạng và đánh giá các vấn đề
liên quan đến chất lượng nước hiện tại và tiềm năng trong tương lai; 3) Các
nhà quản lý phải xác định các khu vực có vấn đề cần can thiệp liên quan đến
chất lượng nước hay đến lĩnh vực về nước mà họ đảm nhiệm; 4) Lựa chọn
các giải pháp theo hướng ưu tiên các hoạt động đảm bảo chất lượng nước
đảm bảo nguồn cung về nước để không bị thiếu cũng như tận dụng tốt nhất
các nguồn lực để giải quyết vấn đề về nước [173].
Tác giả Richard Helmer and Ivanildo Hespanhol (1998), chỉ ra rằng,
việc BVMT bao gồm việc “Ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định về
BVMT theo hướng ngăn chặn các dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu,
có nguy cơ cao gây ONMT. Theo đó, phải xây dựng hệ thống tiêu chí về
môi trường làm cơ sở lựa chọn, sàng lọc loại hình sản xuất và công nghệ sản

15
xuất trong thu hút đầu tư, xem xét, phê duyệt các dự án đầu tư. Đồng thời,
việc quản lý ô nhiễm nước phải được tích hợp với quản lý TNN, trữ lượng
nước [173].
Tác giả Emmanuele Santi và Lucia Grenna đề cập đến vai trò của
thông tin và giám sát BVMT của các tổ chức xã hội trong lĩnh vực truyền
thông bảo vệ môi trường nước. Còn Fiona Nunan, Adrian Campbell, Emma
Foster (2012) đề cập đến việc lồng ghép yếu tố môi trường vào quá trình
chính sách. Tác giả này chỉ ra rằng việc lồng ghép môi trường đã không
được chú trọng trong cấu trúc của tổ chức cũng như trong chính sách [165].
Như vậy, có thể thấy xét về mặt lý luận, cho đến nay, các nhà khoa
học và các nhà quản lý vẫn chưa đưa ra một khái niệm thống nhất liên quan
đến MTN và việc BVMTN. Phần lớn các học giả cũng như nhà quản lý mới
đề cập đến ô nhiễm MTN và các biện pháp ngăn chặn phòng ngừa ô nhiễm
MTN. Theo Nguyễn Hoàng Ánh và các cộng sự, cho đến nay, ở Việt Nam
“chưa có một Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) nào đưa ra định
nghĩa, khái niệm, nội dung cũng như quy trình của kiểm soát ONMTN một
cách đầy đủ và thống nhất” [5, tr.5].
Thứ hai, những công trình nghiên cứu về thực trạng BVMTN.
Về mặt thực tiễn đã có những công trình nghiên cứu về việc thực hiện
các biện pháp nhằm phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn và phục hồi nguồn
nước bị ô nhiễm. Nhóm tác giả của cuốn “Mississippi River Water Quality
and the Clean Water Act: Progress, Challenges, and Opportunities” (Chất
lượng nước của sông Mississippi và Đạo luật nước sạch: Tiến độ, thách thức
và cơ hội) đã chỉ ra rằng, tại Hoa Kỳ, nền tảng của việc bảo vệ chất lượng
nước mặt là việc sử dụng các biện pháp quản lý và phi quy định được thiết
kế để giảm lượng chất gây ô nhiễm trực tiếp xuống đường thủy. Tuy nhiên,
do sự thiếu phối hợp giữa 10 tiểu bang dọc theo con sông đã khiến sông
Mississippi phải đối mặt với nhiều vấn đề về ô nhiễm. Do đó cần có sự lãnh


Xemtailieu.com không chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề bản quyền tài liệu được thành viên tự nguyện đăng tải lên.