VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN HUỲNH ANH VŨ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LĨNH VỰC ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2019

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN HUỲNH ANH VŨ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LĨNH VỰC ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN HỮU MINH

HÀ NỘI - 2019

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI, THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ LỒNG GHÉP GIỚI ......... 8
1.1. Các khái niệm bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giới .................. 8
1.1.1. Khái niệm bình đẳng giới ................................................................. 8
1.1.2. Khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới ............................... 9
1.2. Các yêu cầu thực hiện chính sách bình đẳng giới................................. 11
1.3. Khái niệm lồng ghép giới...................................................................... 13
1.4. Các bước thực hiện lồng ghép giới ....................................................... 14
1.4.1. Phân tích giới .................................................................................. 14
1.4.2. Lập kế hoạch giới............................................................................ 15
1.4.3. Thực hiện, giám sát và đánh giá lồng ghép giới ............................. 15
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách lồng ghép giới dự
án .................................................................................................................. 15
1.5.1. Năng lực thực hiện chính sách nói chung ....................................... 15
1.5.2. Đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách .............................. 18
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LỒNG GHÉP
GIỚI ĐỐI VỚI DỰ ÁN XÂY DỰNG TUYẾN TÀU ĐIỆN NGẦM SỐ 2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, TUYẾN BẾN THÀNH – THAM
LƯƠNG .......................................................................................................... 19
2.1. Thông tin chung về Dự án xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 tại Thành
phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành – Tham Lương (gọi tắt là Dự án tuyến
số 2) .............................................................................................................. 19
2.2. Tình hình thực hiện lồng ghép giới đối với Dự án tuyến số 2 .............. 20
2.2.1. Phân tích giới. ................................................................................. 22
2.2.2. Lập kế hoạch giới............................................................................ 28
2.2.3. Thực hiện, giám sát và đánh giá lồng ghép giới ............................. 32

2.3. Thực trạng năng lực ảnh hưởng việc thực hiện chính sách lồng ghép
giới trong dự án ............................................................................................ 37
2.3.1. Năng lực xây dựng kế hoạch lồng ghép giới .................................. 37
2.3.2. Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách bình đẳng giới và lồng
ghép giới ................................................................................................... 38
2.3.3. Năng lực phối hợp thực hiện chính sách lồng ghép giới ................ 38
2.3.4. Năng lực duy trì việc lồng ghép giới .............................................. 39
2.3.5. Năng lực điều chỉnh chính sách lồng ghép giới ............................. 39
2.4. Đánh giá chung về thực hiện chính sách lồng ghép giới trong dự án .. 39
2.4.1. Mặt được ......................................................................................... 39
2.4.2. Mặt hạn chế ..................................................................................... 40
2.5. Nguyên nhân của những hạn chế .......................................................... 41
Chương 3: NHẬN ĐỊNH VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH
ĐẲNG GIỚI – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP....................................................... 43
3.1. Nhận định việc thực hiện chính sách bình đẳng giới. ........................... 43
3.2. Các giải pháp thúc đẩy thực hiện chính sách bình đẳng giới nói chung
...................................................................................................................... 50
3.2.1 Giải pháp chung ............................................................................... 50
3.2.2. Đối với thành phố Hồ Chí Minh ..................................................... 52
3.3. Các giải pháp thúc đẩy thực hiện chính sách bình đẳng giới và chính
sách lồng ghép giới ở dự án đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh.. 54
3.4. Một số kiến nghị ................................................................................... 56
3.4.1. Đối với Trung ương ........................................................................ 56
3.4.2. Đối với Thành phố Hồ Chí Minh.................................................... 56
3.4.3. Đối với Lãnh đạo Ban ..................................................................... 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Năm sở hữu tài sản của chủ hộ theo giới tính dự án ...................... 24
Bảng 2.2. Tuổi của chủ hộ theo giới tính dự án ............................................. 24
Bảng 2.3. Thu nhập hàng tháng của hộ gia đình có nữ chủ hộ dự án ............ 25
Bảng 2.4. Số lượng người có việc làm trong HGĐ theo giới tính chủ hộ...... 25
Bảng 2.5. Phân bổ giới của những người bị ảnh hưởng ................................. 33
Bảng 2.6. Phân bổ độ tuổi của chủ hộ ............................................................ 34
Bảng 2.7. Phân bổ độ tuổi của thành viên các hộ gia đình BAH ................... 34

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Nghiên cứu về Giới là một chủ đề không mới, trong cả khoa học lý
thuyết và thực tiễn ứng dụng. Chủ đề này đã được các tổ chức quốc tế quan
tâm và thực hiện rất nhiều chương trình, hội thảo nhằm chia sẽ những vấn đề
liên quan về giới. Ở Việt Nam, chủ đề về giới cũng được đào sâu với rất nhiều
công trình nghiên cứu, được tiếp cận dưới nhiều góc độ, phương pháp khác
nhau. Sự ra đời của vấn đề giới tại Việt Nam là do nhu cầu, đòi hỏi tất yếu
của thực tiễn đổi mới đất nước, của phong trào vì sự phát triển phụ nữ. Mặc
dù Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách khá đầy đủ và rõ
ràng trong việc đảm bảo bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội và gia đình. Tuy nhiên, từ quan điểm chính sách tới thực hiện
chính sách vẫn còn có những khoảng trống nhất định.
Bình đẳng giới được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu như một sự cần
thiết cho việc phát triển bền vững của một quốc gia. Theo xu thế đó, Việt
Nam xem việc thực hiện Bình đẳng giới như một mục tiêu quan trọng đánh
giá quá trình phát triển xã hội. Theo Luật Bình đẳng giới được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006
và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2007 [15], quy định nguyên tắc bình
đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; biện pháp bảo
đảm bình đẳng giới; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong
việc thực hiện bình đẳng giới. Như vậy, mục tiêu của Bình đẳng giới cụ thể:
(i) không còn phân biệt đối xử trên cơ sở giới; (ii) ghi nhận sự khác biệt, trên
cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho nam, nữ phát huy tối đa khả năng của họ
và (iii) tạo quan hệ, hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội và gia đình. Trong năm 2015, thế giới đã đề ra một chương trình
hành động nhằm chấm dứt nghèo đói, đấu tranh với bất bình đẳng và thúc đẩy
1

sự thịnh vượng đồng thời bảo vệ môi trường vào năm 2030. Các mục tiêu
phát triển bền vững đã được các nhà lãnh đạo thế giới chính thức thông qua
tại Hội Nghị Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Chương trình nghị sự phát
triển sau năm 2015. Các mục tiêu phát triển đặt ra cho chúng ta một chương
trình hành động nhằm giảm nghèo, đói, bệnh tật, bình đẳng giới và bảo đảm
khả năng tiếp cận nước sạch và vệ sinh trước năm 2015. Đồng thời Chính phủ
nhiều nước trên thế giới đã nỗ lực thực hiện mục tiêu đạt được bình đẳng giới
và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái.
Chính phủ Việt Nam thực hiện Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới
giai đoạn 2011-2020 nhằm nỗ lực thu hẹp dần khoảng cách về giới; nâng cao
tiếng nói của phụ nữ trong việc ra quyết định, lãnh đạo và xây dựng hoà bình;
thúc đẩy trao quyền kinh tế cho phụ nữ và chấm dứt bạo lực với phụ nữ và trẻ
em gái. Việt Nam là một trong số các nước có nhiều thành tựu về thực hiện
bình đẳng giới đã được ghi nhận, như: xây dựng và ban hành văn bản pháp
quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới; bình đẳng nam nữ và nâng cao vị
thế cho phụ nữ, một trong 3 mục tiêu thiên niên kỷ (MDG 2013), được Việt
Nam hoàn thành trước thời hạn năm 2015, đưa Việt Nam trở thành một trong
những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua;
Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực
và thế giới (tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội khóa XIV (2016-2021) đạt
26,8%) [6]. Đây là những con số rất có ý nghĩa, bởi việc thực hiện bình đẳng
giới sẽ giúp mang lại các nguồn lợi lớn cho sự phát triền bền vững của mỗi
quốc gia.
Đối với các dự án do Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asian
Development Bank – ADB) hay Ngân hàng Thế Giới tài trợ, vấn đề về Giới
được quan tâm và có những chính sách về Giới rất cụ thể. Trong những năm
gần đây, xuất hiện những đơn vị tư vấn về Giới với phạm vi công việc: nghiên

2

cứu đánh giá tác động về Giới đối với dự án xây dựng, lập các điều khoản về
Giới trong hồ sơ mời thầu và lập kế hoạch hành động về Giới. Vấn đề Bình
đẳng Giới, Lồng ghép Giới đang là một chủ đề mới không những thu hút
được sự quan tâm của cả thế giới mà sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong
tương lai. Việt Nam từ cơ quan nhà nước, các tổ chức đến người dân dần nâng
cao nhận thức về Giới, Bình đẳng Giới. Một số lĩnh vực đã có những giải
pháp cụ thể nhằm tăng cường cải thiện nhận thức về Giới, Bình đẳng giới.
Bản thân tôi đã được tham gia các hội thảo chia sẽ nâng cao nhận thức về
Giới, Bình đẳng giới và việc Lồng ghép giới do Ngân hàng ADB tổ chức.
Mặc dù, Ban Quản lý dự án và các Nhà tài trợ nỗ lực thực hiện chính sách
bình đẳng giới bằng việc thực hiện chính sách Lồng ghép giới vào các dự án
đường sắt đô thị cụ thể là Dự án Xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 thành
phố Hồ Chí Minh, đoạn Bến Thành – Tham Lương nhưng quá trình triển khai
và kết quả thực hiện chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu chính sách bình
đẳng giới và chính sách lồng ghép giới. Vì vậy, để có thể đánh giá thực chất
hiệu quả việc thực hiện chính sách lồng ghép giới vào dự án nhằm mục tiêu
chung nâng cao nhận thức về Giới và Bình đẳng giới trong các lĩnh vực, tác
giả lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lĩnh vực
đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ chuyên
ngành chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu của luận văn
Vấn đề Bình đẳng giới được phần lớn các nhà nghiên cứu quan tâm,
các nghiên cứu thường đi sâu vào các lĩnh vực cụ thể. Dường như chưa có
nghiên cứu nào tập trung vào việc thực hiện chính sách bình đẳng giới, lồng
ghép giới. Đồng thời, việc lồng ghép giới vào các lĩnh vực đời sống xã hội
cũng còn mang nặng tính lý thuyết chưa thể triển khai thực hiện.

3

Về bình đẳng giới, có một số công trình nghiên cứu cụ thể: Lê Thị Quý
[16] với nghiên cứu “Bình Đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” tập trung làm rõ
khái niệm về bình đẳng giới, đồng thời phân tích những thành tựu và thách
thức về bình đẳng giới ở Việt Nam; Phạm Thị Tuyết [20] có nghiên cứu
“Bình đẳng giới trong giáo dục ở Trà Vinh, Thực trạng và giải pháp”, tập
trung phân tích bình đẳng giới trong một lĩnh vực cụ thể gắn với một địa bàn
cụ thể là giáo dục ở tỉnh Trà Vinh. Tương tự với đề tài này, Mạc Thị Cẩm Tú
[18] có nghiên cứu “Bình đẳng giới trong giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh
- Thực trạng và giải pháp”.
Ngoài ra còn có thể kể ra một số nghiên cứu khác. Các tác giả Đỗ Thị
Bình, Lê Ngọc Văn và Nguyễn Linh Khiếu [5] có nghiên cứu Gia đình Việt
Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Trần Thị Minh Đức [8] có nghiên cứu “Định kiến và phân biệt đối
xử theo giới: lý thuyết và thực tiễn”. Phạm Thị Ngọc Anh [1] có nghiên cứu
“Vai trò giới và lượng hóa giá trị lao động gia đình”. Nguyễn Thị Ngân có
nghiên cứu “Thực hiện quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về
bình đẳng giới” [10] và “Chủ trương của Đảng, Nhà nước về giải phóng phụ
nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam” [9]. Ngoài ra còn có “Báo cáo phát triển
thế giới 2012: Bình đẳng giới và phát triển” của Ngân hàng thế giới [12].
Về thực hiện chính sách lồng ghép giới, đa phần là các buổi thảo luận,
tập huấn do các nhà tài trợ tổ chức. Hội thảo về thực hiện chính sách lồng
ghép giới vào Ngân sách Nhà nước năm 2007 cho đại biểu Quốc hội và Hội
đồng nhân dân. Đề cập thực hiện lồng ghép giới vào Ngân sách Nhà nước là
mục tiêu cần hướng tới; đưa vấn đề giới vào tất cả các công đoạn của quy
trình Ngân sách Nhà nước là phương tiện để đạt mục tiêu nêu trên. Tài liệu cố
gắng đưa ra các chỉ dẫn thực tế và ngắn gọn; cung cấp phương pháp và công
cụ đơn giản, thuận tiện để giúp từng bước lồng ghép giới vào Ngân sách Nhà
4

nước ở Việt Nam nhằm mục đích làm cho Ngân sách Nhà nước thực sự nhạy
cảm giới, góp phần đạt mục tiêu cuối cùng là bình đẳng giới. Năm 2013, Tài
liệu Hướng dẫn lồng ghép giới trong lĩnh vực kinh tế là kết quả của sự thảo
luận và thống nhất giữa Văn phòng Cơ quan Phụ nữ của Liên hiệp quốc (UN
Women) tại Việt Nam và Dự án nâng cao năng lực thực hiện và giám sát thực
hiện Chiến lược quốc gia và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới, Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội [2]. Các tác giả nhận định, cho đến nay mặc
dù một số hoạt động đã được thực hiện nhằm đưa chính sách lồng ghép bình
đẳng giới vào chiến lược, chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở
cấp tỉnh, nhưng chất lượng lồng ghép giới là vấn đề cần quan tâm. Việc xây
dựng các tài liệu Hướng dẫn lồng ghép giới trong các lĩnh vực cụ thể được coi
là một trong những bước đi cần thiết nhằm thúc đẩy việc thực hiện hiệu quả
Chiến lược quốc gia và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới trong giai
đoạn hiện nay.
Tóm lại, có nhiều nghiên cứu về bình đẳng giới, về lồng ghép giới
những chưa có nghiên cứu vào về thực hiện chính sách bình đẳng giới trong
lĩnh vực đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh cụ thể nghiên cứu sâu về
thực hiện chính sách lồng ghép giới ở dự án đường sắt đô thị tại thành phố Hồ
Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá việc thực hiện chính sách
bình đẳng giới và lồng ghép giới trong lĩnh vực đường sắt đô thị tại thành phố
Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả
hơn, tốt hơn việc thực hiện chính sách bình đẳng giới và lồng ghép giới trong
các dự án đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh.

5

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách bình đẳng giới
trong lĩnh vực đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là Dự án
Xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố Hồ Chí Minh, đoạn Bến Thành
– Tham Lương (gọi tắt là Dự án tuyến số 2).
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: thực hiện chính sách bình đẳng giới
trong lĩnh vực đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu, phân
tích thực hiện chính sách bình đẳng giới thông qua hoạt động thực hiện chính
sách lồng ghép giới vào lĩnh vực bồi thường giải phóng mặt bằng dự án; vào
nhiệm vụ của Tư vấn Quản lý dự án và Tư vấn giới.
Phạm vi về thời gian:
- Thời gian thu thập số liệu thứ cấp: các năm 2011, năm 2012.
- Cập nhật các số liệu thứ cấp: từ năm 2016 đến năm 2018.
Phạm vi về không gian: Dự án Xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2
thành phố Hồ Chí Minh, đoạn Bến Thành – Tham Lương
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích các số
liệu thu thập thứ cấp. Trong những tài liệu thứ cấp này, tác giả sử dụng 04
Báo cáo chính để thu thập nhiều số liệu quan trọng về thực hiện chính sách
bình đẳng giới bao gồm: Kế hoạch tái định cư cập nhật của dự án năm 2012;
Kế hoạch tái định cư cập nhật trên địa bàn quận 1 tháng 02 năm 2018; Báo
cáo khóa đào tạo về giới số 1 cho các lãnh đạo và nhân sự của Ban Quản lý
đường sắt đô thị/Ban Quản lý dự án 2, tháng 01 năm 2016; Báo các về xu
hướng giới kế hoạch hành động giới (cập nhật tháng 10 năm 2016 và tháng 02
năm 2017).
Thực hiện chính sách bình đẳng giới trong dự án đường sắt đô thị thông
qua thực hiện lồng ghép giới vào công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự

6

án, vào nhiệm vụ các tư vấn nhằm đánh giá năng lực thực hiện chính sách
lồng ghép giới và đề xuất giải pháp cho thúc đẩy thực hiện chính sách lồng
ghép giới trong dự án xây dựng đường sắt đô thị nói chung và các dự án giao
thông nói riêng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm đa dạng, phong phú thêm lý thuyết
về thực hiện chính sách bình đẳng giới ở một lĩnh vực cụ thể trong công tác
bồi thường giải phóng mặt bằng, trong một số nhiệm vụ của tư vấn trong dự
án đường sắt đô thị. Trong tài liệu, đề cập các khái niện thực hiện chính sách
bình đẳng giới, thực hiện việc lồng ghép giới nhằm đánh giá thực hiện chính
sách bình đẳng giới, lồng ghép giới trong dự án.
Về mặt thực tiễn, những phân tích, đánh giá và kiến nghị của luận văn
là cơ sở cho Ban Quản lý dự án, các nhà tài trợ trong việc nhìn nhận lại quá
trình tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới, quy trình thực hiện lồng
ghép giới trong dự án xây dựng đường sắt đô thị, đồng thời hoàn thiện hơn
quá trình thực hiện chính sách bình đẳng giới, lồng ghép giới vào các dự án
không chỉ riêng dự án đường sắt đô thị.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm các phần như sau:
- Chương 1. Các khái niệm cơ bản về Bình đẳng giới, Thực hiện chính
sách bình đẳng giới và Lồng ghép giới.
- Chương 2. Phân tích thực hiện chính sách lồng ghép giới đối với Dự
án Xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố Hồ Chí Minh, đoạn Bến
Thành – Tham Lương.
- Chương 3. Nhận định việc thực hiện chính sách bình đẳng giới – Đề
xuất giải pháp

7

Chương 1
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI, THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ LỒNG GHÉP GIỚI
1.1. Các khái niệm bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giới
1.1.1. Khái niệm bình đẳng giới
Tìm hiểu về nguồn gốc khái niệm bình đẳng giới, chúng ta đề cập ngay
Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1981
(The Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against
Women - CEDAW) [7] đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc phê chuẩn vào
ngày 18 tháng 12 năm 1979. Tuy nhiên, đến năm 1981 Công ước này bắt đầu
có hiệu lực, một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền con người của phụ
nữ. Theo Ủy ban CEDAW, tính đến tháng 3 năm 2005 đã có 180 quốc gia
trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết Công ước, chiếm hơn 90% thành viên
Liên Hợp Quốc.
Ở Việt Nam, nội dung về bình đẳng giới được đề cập khá sớm trước đó,
cụ thể: trong Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
năm 1946 [13], bình đẳng giới thể hiện bằng nội dung “không phân biệt giống
nòi, gái trai” (Điều 1) và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương
diện” (Điều 9). Dần dần nội dung bình đẳng giới rõ ràng hơn qua các lần sửa
đổi Hiến pháp (năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013), theo Điều 26
Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 [14] nội
dung bình đẳng giới được khẳng định rõ: việc nam nữ bình đẳng về mọi mặt;
quy định các chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; các nội
dung nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển, phát huy vai trò của mình trong
xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.
Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp
thứ 10 ngày 29 tháng 10 năm 2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7
8

năm 2007. Luật Bình đẳng giới quy định triển khai bình đẳng giới trên lĩnh
vực của đời sống xã hội và gia đình; quy định trách nhiệm các cơ quan, tổ
chức gia đình có các giải pháp nhằm đảm bảo bình đẳng giới. Tuy nhiên để
Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống không phải là dễ dàng, do sự hạn chế
trong nhận thức xã hội về khái niệm "bình đẳng giới". Nếu được phỏng vấn,
hiện nay không ít người vẫn chưa hiểu đúng khái niệm "bình đẳng giới" và
cho rằng bình đẳng giới chỉ là bình đẳng nam - nữ; không công bằng trong
bình đẳng giới nghĩa là không công bằng giữa nam giới và phụ nữ. Thực ra
vấn đề trên chỉ là một khía cạnh trong khái niệm bình đẳng giới.
Theo Khoản 3, Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 [15]: “Bình đẳng
giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội
phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và
thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
Như vậy, bình đẳng giới không có nghĩa là nam và nữ phải giống như
nhau hay bình đẳng về mặt kết quả. Bình đẳng giới là đảm bảo rằng mỗi giới
đều được phát triển trọn vẹn đúng theo tiềm năng vốn có của mình. Bình đẳng
giới, vì vậy không có nghĩa là chỉ đấu tranh vì quyền lợi của phụ nữ! Quan
trọng là hình thành nhận thức xã hội đúng đắn về khái niệm bình đẳng giới sẽ
là một trong những điều kiện để Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống.
Với những nội dung được đề cập nêu trên, trong tài liệu này nhận thấy
khái niệm bao quát về bình đẳng giới vẫn là việc nam, nữ có vị trí, vai trò
ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự
phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả
của sự phát triển đó.
1.1.2. Khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới
Theo Giáo trình giảng dạy môn thực hiện chính sách công của tác giả
Phan Anh Tuấn [19], thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình

9

chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể
tồn tại. Thực hiện chính sách là một hệ thống nhất - nhất là với hoạch định
chính sách.
Ý nghĩa quan trọng của thực hiện chính sách công là giai đoạn biến ý
đồ chính sách thành hiện thực hay có thể nhìn nhận rằng thực hiện chính sách
là giai đoạn biến thái độ ứng xử của nhà nước với các đối tượng quản lý thành
hiện thực.
Xét về vị trí và vai trò thì thực hiện chính sách công có vai trò vị trí đặc
biệt quan trọng, là bước thực hiện hóa chính sách trong đời sống xã hội.
Tổ chức thực hiện chính sách tốt không những mang lại lợi ích to lớn
cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà
nước trong quá trình quản lý xã hội.
Để có được một chính sách tốt, các nhà hoạch định phải trải qua một
quá trình nghiên cứu, tìm kiếm công phu. Nhưng dù tốt đến đâu chính sách
cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện.
Sẽ có 4 khả năng xảy ra khi thực hiện chính sách công: Chính sách
công tốt và thực hiện tốt dẫn đền thành công; Chính sách công tốt, nhưng thực
hiện tồi dẫn đến thất bại; Chính sách công tồi, nhưng thực hiện tốt dẫn đến
thành công; Chính sách công tồi và thực hiện tồi dẫn đến thất bại kép.
Ngoài ra, thực hiện chính sách là các biện pháp nhằm đạt được mục
tiêu của chính sách công, cụ thể:
+ Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội bằng hình thức hoạt động
nào nhằm đảm bảo đạt mục tiêu được đề ra trong chính sách công.
+ Bằng các công cụ là các văn bản hoặc chương trình, các dự án, các kế
hoạch nhằm triển khai cụ thể các hoạt động hướng để đạt mục tiêu chính sách
công.
Căn cứ vào mục tiêu và giải pháp chính sách công ban đầu, tùy theo

10

thẩm quyền các cơ quan nhà nước các cấp thiết kế, ban hành các quy định, thủ
tục hoặc chương trình, dự án cụ thể hóa các mục tiêu và giải pháp cho phù
hợp với bối cảnh và điều kiện thực hiện chính sách công cụ thể.
Chính sách bình đẳng giới được công bố dưới dạng Luật Bình đẳng
giới năm 2006; các văn bản quy phạm pháp luật khác như: Nghị định, quyết
định, chỉ thị, thông tư điều chỉnh các hoạt động để nam, nữ bình đẳng giới.
Đối với việc thực hiện chính sách bình đẳng giới là triển khai nội dung tại các
văn bản pháp luật hướng tới mục đích nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau,
được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực để cả nam, nữ đóng góp sự
phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả
của sự phát triển đó.
1.2. Các yêu cầu thực hiện chính sách bình đẳng giới
Trong các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội mang tính bền
vững, nhân tố con người có vai trò quan trọng, quyết định nhất. Quá trình phát
triển sẽ bị hạn chế nếu như một nửa nhân loại là phụ nữ vẫn bị phân biệt, đối
xử và kìm hãm sự phát triển. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, bình đẳng giới là một trong
những tiêu chí đánh giá sự phát triển của một xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh. Vì thế, bình đẳng giới là một yêu cầu khách quan, một mục tiêu quan
trọng cần hướng đến không chỉ của Việt Nam, mà của toàn nhân loại. Nhận
thức được điều này nên bình đẳng giới đang là vấn đề quan tâm của toàn nhân
loại trong đó có Việt Nam [6], chính vì vậy mà việc thực hiện chính sách bình
đẳng giới phải tuân thủ và đảm bảo một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, yêu cầu thực hiện mục tiêu chính sách, muốn đạt yêu cầu này
phải đảm bảo các hoạt động cụ thể:
- Truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bình đẳng giới
để có thể đạt mục tiêu là bao nhiêu cán bộ, công chức, viên chức; sỹ quan, hạ

11

sỹ quan, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang các cấp; người lao động; sinh viên,
học sinh các cấp; các cụm dân cư trên địa bàn được tuyên truyền nâng cao
nhận thức về giới, bình đẳng giới và công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
- Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới để
có thể đạt mục tiêu là cán bộ làm công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ
nữ, cán bộ tham mưu hoạch định chính sách và cán bộ làm công tác pháp chế
ở các địa phương, đơn vị được tập huấn kiến thức, kỹ năng hoạt động bình
đẳng giới.
- Nâng cao năng lực Hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới trong những lĩnh
vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ cao về
bất bình đẳng giới
Thứ hai, yêu cầu bảo đảm tính hệ thống. Chính sách bình đẳng giới nêu
trên được tổ chức thực thi chính sách đã kết hợp chặt chẽ với các bộ phận
khác trong chu trình tạo nên một hệ thống thống nhất, cụ thể:
- Hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách;
- Hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức thực thi chính sách;
- Hệ thống trong điều hành, phối hợp thực hiện;
- Hệ thống trong sử dụng công cụ chính sách với các công cụ quản lý
khác của nhà nước.
Thứ ba, yêu cầu các cơ quan nhà nước phải bảo đảm tính khoa học, hợp
lý trong tổ chức thực hiện chính sách công. Tính khoa học của quá trình tổ
chức thực thi chính sách bình đẳng giới phải phù hợp để tồn tại trong thực tế.
Thứ tư, bảo đảm tuân thủ pháp luật trong thực hiện chính sách công.
Luật gồm 6 chương, 44 điều, quy định đầy đủ các vấn đề và điều khoản nhằm
thực hiện bình đẳng giới ở nước ta. Ngoài ra, tuân thủ pháp luật trong thực
hiện chính sách thể hiện ở việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá

12

trình xây dựng, ban hành Kế hoạch trên cụ thể dựa vào “Chương trình thực
hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn 2011 – 2020” và dự án Chương trình quốc gia về bình đẳng
giới giai đoạn 2011 – 2015.
Thứ tư, bảo đảm sự tham gia của các bên liên quan. Mức độ tham gia
của các bên liên quan, bao gồm các đối tác những người được hưởng lợi từ
chính sách công và những người có lợi ích liên quan góp phần quan trọng vào
sự thành công của thực hiện chính sách công. Sự phối hợp thể hiện ở nhiều
khía cạnh.
1.3. Khái niệm lồng ghép giới
Theo Sổ tay Tập huấn nhằm Hỗ trợ Giới và Biến đổi Khí hậu theo Mục
tiêu Quốc gia: Chính sách, Chiến lược và Phát triển Chương trình của Ngân
hàng ADB [11, tr.61-68], Bình đẳng giới là mục tiêu – Lồng ghép giới là
chiến lược hoặc phương tiện để đạt được mục tiêu đó. Những dự án trao
quyền nhiều hơn cho phụ nữ có thể giảm bớt các rào cản xã hội và kinh tế và
cho phép họ đóng góp vào hành động giảm thiểu và thích ứng trong khi cũng
cải thiện sinh kế của mình. Lồng ghép giới có thể bao gồm hoặc được bổ sung
bởi các dự án định hướng giới rõ ràng nhằm mục tiêu cụ thể vào người phụ nữ
hoặc nam giới. Khi mà tình trạng phân biệt đối xử về xã hội thường gây cản
trở người phụ nữ tham gia vào hoạt động ra quyết định hoặc hưởng lợi từ
những công nghệ hiệu quả thì các biện pháp trao quyền cho phụ nữ có thể đạt
được mục tiêu bình đẳng giới. Những cân nhắc giới, chẳng hạn như sự cần
thiết phải trao quyền cho phụ nữ, cần phải được lồng ghép vào các chính sách
và dự án.
Theo định nghĩa khác, lồng ghép giới là biện pháp nhằm thực hiện mục
tiêu chính sách bình đẳng giới. Đó là việc tính đến nhu cầu và mối quan tâm
của nữ và nam trong quá trình xậy dựng, thực hiện và kiểm tra, giám sát từng

13

chính sách, chương trình, dự án nhằm xóa bỏ các biểu hiện bất bình đẳng nam
nữ.
Lồng ghép giới: (i) giúp cải thiện quản trị nhà nước và là thành tố trung
tâm của phát triển bền vững, (ii) cho phép tất cả mọi thành viên của xã hội
được hưởng lợi từ phát triển, (iii) tận dụng tối đa nguồn nhân lực của một
quốc gia và khai thác tiềm năng còn tiềm ẩn (của phụ nữ), và (iv) tăng cường
công bằng và bình đẳng.
Theo lý luận trên, thực hiện chính sách lồng ghép giới vào dự án đường
sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh là biện pháp nhằm giúp nam, nữ liên
quan đến dự án phát huy được tối đa năng lực của bản thân, đảm bảo được
quyền bình đẳng của họ trong thay đổi và cải thiện sinh kế.
1.4. Các bước thực hiện lồng ghép giới
Để lồng ghép giới vào chính sách, chương trình, hoạt động cần thực
hiện các bước Phân tích giới, Lập kế hoạch giới và Thực hiện, giám sát và
đánh giá lồng ghép giới.
1.4.1. Phân tích giới
Phân tích giới đây là bước quan trọng, với các hoạt động cần thiết phục
vụ cho việc phân tích vấn đề, phân tích tình hình.
- Thực hiện thu thập số liệu về nhóm đối tượng tách biệt theo giới tính;
- Phân tích số liệu thu thập được để xác định các xu hướng bất bình
đẳng;
- Xác định sự phân chia lao động và khả năng tiếp cận và kiểm soát các
nguồn lực và lợi ích;
- Hiểu được nhu cầu, khó khăn và cơ hội của nam giới và phụ nữ;
- Rà soát năng lực của các tổ chức liên quan trong việc thúc đẩy bình
đẳng giới.

14

1.4.2. Lập kế hoạch giới
Chúng ta đã có bức tranh tổng thể qua việc thu thập số liệu, phân tích
vấn đề ở bước trên nhận định tình trạng của từng đối tượng, từ đó cần giải
pháp nhằm duy trì vị thế các đối tượng đồng thời giải pháp cải thiện, xóa bỏ
bất bình đẳng một số khía cạnh. Việc lập kế hoạch giới sẽ bao gồm:
- Xác định mục tiêu của lồng ghép giới;
- Xác định các biện pháp để ngăn ngừa hoặc giải quyết vấn đề bất bình
đẳng, dựa theo các chiến lược lồng ghép giới;
- Đề xuất hoạt động tác động tới cơ quan thực hiện nhằm nâng cao
năng lực thực hiện kế hoạch lồng ghép giới và thúc đẩy bình đẳng giới cho
họ.
1.4.3. Thực hiện, giám sát và đánh giá lồng ghép giới
Bước này nhằm triển khai kế hoạch giới đã được xây dựng và giám sát
- đánh giá việc thực hiện lồng ghép giới, bao gồm các hoạt động như:
- Thực hiện kế hoạch lồng ghép giới;
- Giám sát và đánh giá quá trình và kết quả thực hiện lồng ghép giới;
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách lồng ghép
giới dự án
Việc thực hiện chính sách lồng ghép giới dự án chịu chi phối bởi nhiều
yếu tố dự án, đặc điểm của đối tượng thụ hưởng dự án (người dân bị ảnh
hưởng, người hưởng lợi khi dự án hoàn thành,… ) và năng lực của chủ thể
thực hiện chính sách lồng ghép giới (đơn vị tư vấn, chuyên gia về giới và cán
bộ phụ trách về giới).
1.5.1. Năng lực thực hiện chính sách nói chung
Vấn đề tiềm lực về tài chính được đề cập như một trong số các nội
dung then chốt, tiếp đó là về con người, tổ chức được sử dụng trong quá trình
thực hiện chính sách.

15


Xemtailieu.com không chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề bản quyền tài liệu được thành viên tự nguyện đăng tải lên.