VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ HƢƠNG GIANG

QUYỀN NĂNG KINH TẾ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG MÔ HÌNH HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI
Ở VIỆT NAM

PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ VẬN TÀI THỦY-BỘ
NỘI ĐỊA Ở ĐỒNG BẰN SG CỬU LONG
Ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 9.31.01.05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2020

Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Tập thể hướng dẫn khoa học:
1. TS. Phùng Quốc Chí
2. TS. Phan Vĩnh Điển

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Chiến Thắng
Phản biện 2: PGS.TS. Ngô Quang Minh
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Mậu Dũng

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện,
tại: Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi

giờ, ngày

tháng

năm 2020

Có thể tìm hiểu luận án tại: - Thư viện Quốc gia
-Thư viện Học viện Khoa học xã hội

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ở Việt Nam, phụ nữ nông thôn là lực lượng có đóng góp lớn
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn. Với hơn 47% lực lượng lao động ở nông thôn, việc thúc đẩy vai
trò, trong đó có quyền năng kinh tế cho phụ nữ nông thôn ở Việt
Nam là một đòi hỏi tất yếu. Tuy nhiên hiện nay, vị thế của phụ nữ
nông thôn Việt Nam trong các lĩnh vực của đời sống, quan hệ xã hội
và trong gia đình chưa được phát huy đầy đủ, quyền năng kinh tế của
họ còn nhiều hạn chế.
Trong các mô hình kinh tế ở khu vực nông nghiệp, nông thôn,
kinh tế hợp tác, trong đó có mô hình HTX là một thành tố quan
trọng. Các HTX hoạt động theo mô hình HTX kiểu mới ra đời và
phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho các thành viên
HTX. Sự phát triển của mô hình HTX kiểu mới đã tạo cơ hội cho phụ
nữ nông thôn nâng cao quyền năng kinh tế của mình ở các phương
diện nhận biết nhu cầu của thị trường, nhận biết cơ hội tiếp cận các
nguồn lực và khả năng phát triển của các HTX kiểu mới từ đó nâng
cao thu nhập và vai trò trong gia đình và cộng đồng. Thông qua mô
hình HTX kiểu mới, quyền năng kinh tế của các thành viên trong đó
có phụ nữ nông thôn được phát huy, được khẳng định và thừa nhận.
Đã có những nghiên cứu quốc tế về quyền năng kinh tế của
phụ nữ, về mô hình HTX; ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về
HTX, hoặc về vai trò của phụ nữ ở nông thôn đã cung cấp cơ sở lý
luận cơ bản về HTX, vai trò của phụ nữ nông thôn trong quá trình

2
phát triển đất nước. Tuy nhiên trong phạm vi tài liệu mà NCS được
tiếp cận, chưa có nghiên cứu nào ở Việt Nam đi sâu phân tích về
quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu
mới. Với ý nghĩa trên, vấn đề “Quyền năng kinh tế của phụ nữ
nông thôn trong mô hình hợp tác xã kiểu mới ở Việt Nam” được
NCS chọn là đề tài nghiên cứu Luận án tiến sĩ ngành kinh tế phát
triển là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
1. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
1.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận, luận án nhận diện thực trạng
quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu
mới ở Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao
quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu
mới ở Việt Nam.
1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận về quyền năng
kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu mới.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quyền năng kinh tế của phụ
nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu mới ở Việt Nam.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nâng cao quyền
năng kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu mới ở
Việt Nam.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1. Đối tượng nghiên cứu

3
Luận án đi sâu nghiên cứu những vấn đề về Quyền năng kinh
tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu mới ở Việt Nam.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc, nghiên
cứu thực địa tại 3 tỉnh thuộc 3 vùng miền trên toàn quốc: Thái
Nguyên, Quảng Bình, Cần Thơ.
- Thời gian: Từ năm 2013 đến 2019 và giải pháp giai đoạn
2020 - 2030.
- Nội dung: Tập trung nghiên cứu quyền năng kinh tế phụ nữ
nông thôn Việt Nam (là phụ nữ ở khu vực nông thôn) trong mô hình
HTX kiểu mới ở khu vực nông nghiệp (chiếm hơn 60% trong tổng số
HTX hiện nay, đồng thời số thành viên cũng chiếm trên 60% trong
tổng số thành viên HTX). Chỉ tập trung nghiên cứu quyền năng kinh
tế của phụ nữ nông thôn là thành viên HTX, còn của phụ nữ nông
thôn là lãnh đạo HTX sẽ được đề cập ở mức độ nhất định.
3. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp luận:
Luận án sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chuyên
ngành kinh tế phát triển. Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc phụ nữ
nông thôn tham gia mô hình HTX kiểu mới với việc nâng cao quyền
năng kinh tế cho phụ nữ nông thôn Việt Nam. Tiếp cận một cách
tổng thể mối quan hệ giữa các yếu tố để đưa ra các giải pháp phù hợp
nhằm nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ nông thôn trong mô
hình HTX kiểu mới ở Việt Nam.
3.2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4
3.2.1. Cách tiếp cận: Tiếp cận có sự tham gia, Lý thuyết
phát triển bền vững; Lý thuyết về tăng trưởng bao trùm.
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp
với định lượng, trong đó phương pháp định tính là chủ đạo. Cụ thể
gồm các phương pháp:
1) Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Luận án nghiên
cứu phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, sách,
giáo trình, tài liệu liên quan đến cơ sở lý luận về mô hình HTX, HTX
kiểu mới và quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn. Luận án sử
dụng các số liệu thống kê, xuất bản phẩm, báo chí, tài liệu đã được
công bố
2) Phương pháp điều tra, khảo sát:
- Phỏng vấn sâu 30 phụ nữ nông thôn tham gia và không
tham gia HTX; nghiên cứu trường hợp 3 HTX kiểu mới tại Thái
Nguyên, Quảng Bình, Cần Thơ.
- Lựa chọn 300 cá nhân phỏng vấn (150 phụ nữ nông thôn
tham gia mô hình HTX kiểu mới và 150 phụ nữ nông thôn không
tham gia mô hình HTX kiểu mới) tại Thái Nguyên, Quảng Bình, Cần
Thơ.
NCS sử dụng phương pháp điều tra một lần theo lát cắt ngang.
Tổ chức điều tra theo bảng hỏi ngẫu nhiên với phụ nữ nông thôn,
trong đó có 150 người tham gia các HTX kiểu mới và 150 người
không tham gia HTX kiểu mới (300 phụ nữ nông thôn thuộc 3 tỉnh
thuộc 3 vùng miền trên toàn quốc: Thái Nguyên, Quảng Bình, Cần

5
Thơ); tại mỗi tỉnh phỏng vấn 50 phụ nữ nông thôn tham gia HTX
kiểu mới và 50 phụ nữ nông thôn không tham gia HTX kiểu mới.
NCS sử dụng 02 bảng hỏi cho điều tra, trong đó 01 bảng hỏi
dành cho đối tượng là phụ nữ nông thôn tham gia HTX hoạt động
theo mô hình kiểu mới và 01 bảng hỏi dành cho đối tượng là phụ nữ
nông thôn không tham gia HTX hoạt động theo mô hình HTX kiểu
mới. Bảng hỏi được phát triển trên những vấn đề quan trọng liên
quan đến quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình
HTX kiểu mới. Bảng hỏi được thiết kế trên cơ sở tham khảo các bảng
hỏi đã được sử dụng trong các cuộc điều tra của Hội LHPN Việt
Nam trước đây và của một số tổ chức quốc tế.
3.3. Phương pháp phân tích
Trong quá trình thực hiện luận án, các phương pháp nghiên
cứu kinh tế thông dụng được sử dụng để giải quyết các vấn đề đặt ra
trong quá trình nghiên cứu gồm:
- Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu và phiếu điều tra
được tổng hợp thủ công và hệ thống hoá, xử lý và tính toán qua phần
mềm SPSS. Tuỳ theo nội dung cần phân tích ở mức nào mà số liệu
được tính toán và thể hiện qua bảng hoặc hình vẽ tương ứng. Số
phiếu phát ra là 300, số phiếu thu về là 293.
- Phương pháp phân tích số liệu, dữ liệu:
+ Phương pháp tổng hợp, thống kê: Số liệu được thu thập có
hệ thống, phản ánh mức độ, thực trạng các vấn đề có liên quan, mối
liên hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến quyền năng kinh tế của phụ
nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu mới.

6
+ Phương pháp phân tích so sánh: Phân tích kết quả, đối chiếu,
so sánh các mức độ tác động của mô hình HTX kiểu mới đến quyền
năng kinh tế của phụ nữ nông thôn; so sánh quyền năng kinh tế của
phụ nữ nông thôn giữa phụ nữ nông thôn tham gia với phụ nữ không
tham gia mô hình HTX kiểu mới; so sánh các tiêu chí giữa thời điểm
trước khi tham gia HTX và sau khi tham gia HTX của phụ nữ nông
thôn tham gia mô hình HTX kiểu mới.
3.4. Khung phân tích

Nhóm
yếu tố
vĩ mô

Các
yếu tố
ảnh
hƣởng

Nhóm
yếu tố
vi mô:
- Từ

hình
HTX
kiểu
mới
- Từ
bản
thân
phụ nữ
nông
thôn

4. Những đóng góp của

1. Năng lực kiểm
soát, định đoạt, chi
phối các nguồn lực
sản xuất.
2. Năng lực tiếp thu,
sử dụng các kiến
thức, kỹ năng trong
phát triển sản xuất.

Quyền
năng
kinh tế
của
phụ
nữ
nông
thôn
trong

hình
HTX
kiểu
mới

3. Năng lực thu
thập, phân tích,
quản lý, ứng dụng
thông tin trong phát
triển sản xuất.
đề
tài lực tham
4. Năng
gia, ra quyết định và
thụ hưởng thành quả
trong mô hình HTX
kiểu mới.

Sự thay đổi về
năng lực kiểm
soát, định đoạt,
chi phối các
nguồn lực sản xuất
Sự thay đổi về năng
lực tiếp thu, sử dụng
các kiến thức, kỹ
năng trong phát
triển sản xuất
Sự thay đổi về
năng lực thu thập,
phân tích, quản lý,
ứng dụng thông tin
trong phát triển
sản xuất
Sự thay đổi về
năng lực tham
gia, ra quyết định
và thụ hưởng
thành quả trong
mô hình HTX
kiểu mới

7
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về mô hình HTX kiểu mới và
quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu
mới; các yếu tố ảnh hưởng đến quyền năng kinh tế của phụ nữ nông
thôn trong mô hình HTX kiểu mới.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quyền năng kinh tế của phụ nữ
nông thôn trong mô hình HTX kiểu mới ở Việt Nam; tác động của
mô hình HTX kiểu mới đến nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ
nông thôn Việt Nam; các điểm mạnh, hạn chế, nguyên nhân của việc
nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn Việt Nam trong
mô hình HTX kiểu mới.
- Phân tích bối cảnh quốc tế, trong nước, từ đó đề xuất quan
điểm và giải pháp chủ yếu nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ
nông thôn trong mô hình HTX kiểu mới ở Việt Nam.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, Luận án được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền năng kinh tế
của phụ nữ nông thôn trong mô hình hợp tác xã kiểu mới.
Chương 3: Thực trạng quyền năng kinh tế của phụ nữ nông
thôn trong mô hình hợp tác xã kiểu mới ở Việt Nam.
Chương 4: Giải pháp nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ
nông thôn trong mô hình hợp tác xã kiểu mới ở Việt Nam.
Chƣơng 1:

8
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các nghiên cứu liên quan đến mô hình hợp tác xã và hợp tác
xã kiểu mới
1.1.1. Các nghiên cứu quốc tế: Nghiên cứu của Kimberly A.Zeuli
và Robert Cropp (2004); Brian M. Henehan và Bruce L. Anderson
(2001); John O’Connor (2001); Tổ chức Lao động quốc tế (2014).
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam: Liên minh hợp tác xã Việt
Nam (2016); Đặng Kim Sơn, Trần Công Thắng, Đỗ Liên Hương, Võ
Thị Thanh Tâm, Phạm Thị Kim Dung (2014); Bộ Kế hoạch và Đầu
tư (2012); Lưu Hoài Chuẩn năm 2002; Phùng Quốc Chí (2010)
1.2. Các nghiên cứu liên quan đến lao động nữ nông thôn và
quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình hợp tác
xã kiểu mới
1.2.1. Các nghiên cứu quốc tế: Tuyên bố và cương lĩnh hành động
Bắc Kinh được thông qua Hội nghị thế giới lần thứ tư về phụ nữ tại
Bắc kinh (1995); Berhane Ghebremichael (2013); Lisa Schincariol
McMurtry và JJ McMurtry (2015); Nandini Azad do Liên minh HTX
thế giới ấn hành năm 2017
1.2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam: Hoàng Bá Thịnh (2014); Lê
Thị Quý (2010); Nguyễn Thị Phương Thuý (2017); Viện Nghiên cứu
Gia đình và Giới, Chính phủ Úc, UN Women (2016); Tổ chức Nông
nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO) và UN Women
(2014); Nguyễn Viết Đăng, Quyền Đình Hà, Nguyễn Tuyết Lan,

9
Nguyễn Minh Thu, Đỗ Thanh Huyền (2006); Nguyễn Thị Thanh
Nhàn (2017); Hoàng Bá Thịnh (2001)
1.3. Các nghiên cứu về tác động của nâng cao quyền năng kinh tế
của phụ nữ nông thôn đến sự phát triển kinh tế - xã hội
1.3.1. Tác động của nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ
nông thôn đến quá trình phát triển về kinh tế: Tổ chức Important
India (2018); Cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng và trao quyền cho
phụ nữ (UN Women) và Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (2016)
1.3.2. Tác động của nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ
nông thôn đến quá trình phát triển về xã hội: Oxfarm (2017)
Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay, ở Việt Nam, trong phạm vi
nguồn thông tin dữ liệu NCS được tiếp cận, chưa có nghiên cứu làm
rõ quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn cũng như quyền năng
kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu mới; ảnh
hưởng của mô hình HTX kiểu mới đến quyền năng kinh tế của phụ
nữ nông thôn; thông qua mô hình HTX kiểu mới, vai trò, tiềm năng
của các thành viên HTX, trong đó có các lao động nữ, thành viên nữ
được phát huy, được khẳng định và thừa nhận... Chỉ có một số nghiên
cứu có những mối liên quan nhất định. Đây chính là khoảng trống
nghiên cứu mà Luận án tiếp cận để bổ sung các luận điểm, phát hiện.
Chƣơng 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUYỀN NĂNG KINH TẾ
CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG MÔ HÌNH HỢP TÁC XÃ
KIỂU MỚI

10
2.1. Khái niệm về mô hình hợp tác xã kiểu mới và quyền năng
kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô hình hợp tác xã kiểu mới
2.1.1. Khái niệm về mô hình hợp tác xã kiểu mới
- Khái niệm hợp tác xã và hợp tác xã kiểu mới: Từ khái niệm về
mô hình HTX của quốc tế và của Việt Nam qua các giai đoạn, Luận
án sử dụng khái niệm: “HTX kiểu mới là các HTX được thành lập, tổ
chức và hoạt động theo đúng bản chất, nguyên tắc được quy định
trong Luật Hợp tác xã; sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả cao
theo chuỗi giá trị, góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho
thành viên”
- Nguyên tắc hoạt động và đặc trưng cơ bản của mô hình hợp tác
xã kiểu mới: Theo bảy nguyên tắc hoạt động của HTX được quy định
trong Luật HTX năm 2012.
- Đặc trưng cơ bản của mô hình HTX kiểu mới ở Việt Nam có thể
khái quát như sau:
+ Về tính chất hoạt động: Mô hình HTX kiểu mới là tổ chức kinh
tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hoạt động hiệu quả nhằm đáp ứng nhu
cầu của thành viên; tự nguyện; mọi lợi ích thuộc về thành viên.
+ Về mục tiêu tổ chức: Đáp ứng trước hết nhu cầu chung về kinh
tế, văn hóa, xã hội của thành viên.
+ Về đối tượng phục vụ, quan hệ của HTX và thành viên: Đối
tượng phục vụ là thành viên HTX. Thành viên HTX có vai trò kép
vừa là chủ sở hữu vừa là khách hàng của HTX.

11
+ Về sở hữu tài sản: Thành viên HTX góp vốn vào HTX được trả
lại vốn góp khi ra khỏi HTX, thành viên vẫn sở hữu tư nhân tư liệu
sản xuất và có các hoạt động kinh tế tư nhân, cá thể.
+ Về phương thức quản lý: Hướng vào làm lợi cho thành viên;
quyền biểu quyết bình đẳng, mỗi thành viên một phiếu.
+ Về phân chia lợi nhuận: Thu nhập còn lại sau khi đã trích lập
các quỹ theo quy định được phân phối cho thành viên; Thu nhập đã
phân phối cho thành viên là tài sản thuộc sở hữu của thành viên.
2.1.2. Khái niệm về quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn
trong mô hình HTX kiểu mới
- Theo tổ chức Oxfam, “Nâng cao quyền năng của phụ nữ là một
quá trình mà ở đó cuộc sống của người phụ nữ được chuyển từ trạng
thái hạn chế về quyền lực do các định kiến giới sang trạng thái mà ở
đó họ có quyền bình đẳng với nam giới”.
- Khái niệm quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn trong mô
hình HTX kiểu mới: “Quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn
trong mô hình hợp tác xã kiểu mới là năng lực của phụ nữ nông thôn
trong kiểm soát, định đoạt, chi phối các nguồn lực sản xuất; tiếp thu,
sử dụng các kiến thức, kỹ năng trong phát triển sản xuất; phân tích,
quản lý, ứng dụng thông tin trong phát triển sản xuất; tham gia, ra
quyết định và được thụ hưởng thành quả trong mô hình hợp tác xã
kiểu mới”.
2.1.3. Vai trò của nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ
nông thôn trong mô hình hợp tác xã kiểu mới

12
Nâng cao quyền năng cho phụ nữ nông thôn giúp phụ nữ trở nên
tự tin, độc lập, có thể kiếm tiền cho gia đình và đóng góp vào sự phát
triển kinh tế của quốc gia; tác động tích cực đến sự phát triển của trẻ
cũng như của các thành viên khác trong gia đình; làm giảm bạo lực
gia đình.
2.2. Nội dung và tiêu chí đánh giá quyền năng kinh tế của phụ nữ
nông thôn trong mô hình hợp tác xã kiểu mới
2.2.1. Nội dung quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn trong
mô hình hợp tác xã kiểu mới
- Năng lực kiểm soát, định đoạt, chi phối các nguồn lực sản xuất.
- Năng lực tiếp thu, sử dụng các kiến thức, kỹ năng phát triển
kinh tế.
- Năng lực thu thập, phân tích, quản lý, ứng dụng thông tin để ra
các quyết định trong phát triển kinh tế.
- Năng lực tham gia, ra quyết định và được thụ hưởng thành quả
trong mô hình HTX kiểu mới.
2.2.2. Tiêu chí đánh giá quyền năng kinh tế của phụ nữ nông
thôn trong mô hình hợp tác xã kiểu mới
- Sự thay đổi về năng lực kiểm soát, định đoạt, chi phối các
nguồn lực sản xuất: Chỉ tiêu đo lường: Tỷ lệ được vay vốn tăng lên
và phù hợp với nhu cầu vay; nguồn vay vốn; mục đích vay vốn; thời
gian vay vốn; khả năng trả nợ vốn vay...
- Sự thay đổi về năng lực tiếp thu, sử dụng các kiến thức, kỹ năng
trong phát triển sản xuất: Chỉ tiêu đo lường: Mức độ tham gia các

13
hoạt động nâng cao năng lực cho phụ nữ nông thôn; thời gian được
tập huấn; mức độ nâng cao kiến thức, kỹ năng trong sản xuất.
- Sự thay đổi về năng lực thu thập, phân tích, quản lý, ứng dụng
thông tin trong phát triển sản xuất: Chỉ tiêu đo lường: Việc cung cấp
các thông tin liên quan đến sản xuất của phụ nữ nông thôn, nội dung
thông tin, nguồn cung cấp thông tin; mức độ ứng dụng thông tin
trong việc ra các quyết định sản xuất.
- Sự thay đổi về năng lực tham gia, ra quyết định và được thụ
hưởng thành quả trong mô hình HTX kiểu mới: Chỉ tiêu đo lường: Vị
trí, nhận thức về HTX, quyền lợi nhận được từ HTX, chất lượng các
dịch vụ của HTX, sự tham gia họp bàn về các công việc của HTX;
mức độ ổn định, phát triển về việc làm, thu nhập.
2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quyền năng kinh tế của phụ nữ
nông thôn trong mô hình hợp tác xã kiểu mới
2.3.1. Các yếu tố vĩ mô: Các chính sách ảnh hưởng đến mức độ
tiếp cận nguồn lực sản xuất của phụ nữ nông thôn: sở hữu đất đai;
vay vốn; tập huấn đào tạo; dịch vụ khuyến nông; lao động, việc làm.
2.3.2. Các yếu tố vi mô
- Nhóm yếu tố từ hợp tác xã: Với nguyên tắc hoạt động và các đặc
trưng cơ bản của mô hình HTX, đây là mô hình có thể giúp nâng cao
quyền năng kinh tế cho phụ nữ nông thôn trong điều kiện HTX vận
hành theo đúng nguyên tắc.

14
- Nhóm yếu tố từ bản thân phụ nữ nông thôn: Nhận thức, trình độ
học vấn; vốn xã hội của phụ nữ nông thôn; tính cơ động, quyết đoán,
tự chủ, nhanh nhạy, của lao động nữ nông thôn thường kém....
2.4. Kinh nghiệm nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ nông
thôn trong mô hình hợp tác xã của một số nƣớc trên thế giới và
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.4.1. Kinh nghiệm về bảo đảm và thực hiện quyền năng kinh tế
của phụ nữ nông thôn trong mô hình hợp tác xã của một số nước
trên thế giới: Nhật Bản; Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc.
2.4.3. Bài học kinh nghiệm:
- Mô hình HTX kiểu mới là mô hình hiệu quả trong nâng cao
quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước về kinh tế tập thể, HTX.
- HTX cần là mô hình theo đúng đặc trưng của HTX kiểu mới.
- Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ phụ nữ nông thôn tham gia chủ
động trong mô hình HTX kiểu mới.
Chƣơng 3:
THỰC TRẠNG QUYỀN NĂNG KINH TẾ CỦA PHỤ NỮ NÔNG
THÔN TRONG MÔ HÌNH HỢP TÁC XÃ KIỂU MỚI
Ở VIỆT NAM

3.1. Tổng quan về thực trạng mô hình hợp tác xã kiểu mới và
phụ nữ nông thôn tham gia phát triển kinh tế ở Việt Nam
3.1.1. Thực trạng phát triển của mô hình hợp tác xã kiểu mới ở
Việt Nam hiện nay

15
3.1.1.1. Sự phát triển của các chính sách liên quan đến mô hình
hợp tác xã ở Việt Nam
- Thời kỳ trước đổi mới, đề cao tuyệt đối vai trò kinh tế tập thể,
HTX phát triển nhanh về số lượng, quy mô bằng các biện pháp hành
chính Nhà nước.
- Từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, có sự thay đổi quan trọng
trong khu vực HTX, Luật HTX 1996 là bước mở đầu cho sự ra đời
của mô hình HTX kiểu mới.
- Luật HTX năm 2003 tạo hành lang pháp lý cho HTX đồng bộ,
đầy đủ hơn; bước đầu tạo chuyển biến nhận thức về HTX.
- Luật HTX sửa đổi năm 2012 giải quyết hầu hết những vấn đề
còn tồn tại từ những văn bản pháp luật trước đó.
3.1.1.2. Thực trạng HTX ở Việt Nam hiện nay.
Tính đến 31/12/2018, có 22.861 HTX, trong đó có 13.856 HTX
nông nghiệp (chiếm 60,6%), thu hút gần 6 triệu thành viên tham gia.
Mặc dù khó khăn nhưng hiệu quả hoạt động của các HTX ngày càng
ổn định và có xu hướng phát triển. Các HTX từng bước hoạt động
đúng bản chất. Doanh thu bình quân của một HTX năm 2018 đạt
4.477,3 triệu đồng/HTX.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, các HTX phát triển chưa tương
xứng với tiềm năng: năng lực nội tại còn yếu, kể cả về trang thiết bị,
cơ sở vật chất, trình độ công nghệ, trình độ quản lý; hoạt động sản
xuất kinh doanh còn thụ động; sự liên kết, hợp tác giữa các HTX
chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp.
3.1.2. Thực trạng phụ nữ nông thôn tham gia phát triển kinh tế

16
Ở Việt Nam, phụ nữ nông thôn là lực lượng lao động quan trọng,
có đóng góp tích cực trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp,
nông thôn. Theo số liệu từ Tổng điều tra dân số năm 2019, phụ nữ
chiếm 50,2% tổng dân số; phụ nữ chiếm 47,4% trong tổng lực lượng
lao động ở nông thôn; 77% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao
động ở nông thôn. Riêng lực lượng lao động trong các HTX là 2,4
triệu lao động, trong đó chiếm hơn 50% là lao động nữ. Tỷ lệ lao
động nữ giữ các chức vụ quản lý, điều hành trong HTX khá thấp và
đa phần chỉ giữ chức vụ từ cấp phó trở xuống. Tỷ lệ lao động nữ
không có tay nghề chiếm trên 60% tổng số lao động nữ trong HTX.
Một số trở ngại của lực lượng lao động nữ nông thôn: Trình độ
chuyên môn kỹ thuật hạn chế; trình độ học vấn thấp; 71% lao động
nữ nông thôn không có khả năng tiếp cận đào tạo nghề, các loại hình
đào tạo nghề dành cho phụ nữ thường là ngắn hạn; cơ hội việc làm
hiện là vấn đề bức bách.
3.2. Thực trạng quyền năng kinh tế của phụ nữ nông thôn trong
mô hình hợp tác xã kiểu mới ở Việt Nam
3.2.1. Sự thay đổi về năng lực kiểm soát, định đoạt, chi phối
nguồn lực sản xuất
Phụ nữ nông thôn thường gặp khó khăn khi tiếp cận với các
nguồn lực như tài chính, tín dụng. Theo Oxfam, chỉ 10-20% số người
đang sở hữu ruộng đất là phụ nữ. Về tiếp cận vốn, phụ nữ nông thôn
thường ít được vay vốn.
Kết quả nghiên cứu 150 phụ nữ nông thôn (tại Thái Nguyên,
Quảng Bình, Cần Thơ), đối với phụ nữ tham gia HTX được phỏng

17
vấn, tỷ lệ được vay vốn tăng và khả năng trả nợ đúng hạn tăng. So
sánh trước thời điểm tham gia HTX, chỉ có 39% được vay vốn sản
xuất, sau khi tham gia HTX, đã có 52,4% được vay vốn; trước khi
tham gia HTX có 4% không thể trả nợ đúng hạn, sau khi tham gia
HTX tỷ lệ này là 0%.
So sánh về các hình thức hỗ trợ của HTX cho phụ nữ với nhóm
phụ nữ không tham gia HTX cho thấy ở nhóm phụ nữ nông thôn
tham gia HTX tỷ lệ được nhận hỗ trợ vật chất và hỗ trợ kỹ thuật lớn
hơn nhiều so với nhóm không tham gia HTX: 36,2% được đào tạo về
quản lý kinh doanh (tỷ lệ này ở nhóm không tham gia HTX là 26%);
75,4% được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật là (tỷ lệ này ở nhóm
không tham gia HTX là 38%); 27,5% được hỗ trợ máy móc, trang
thiết bị sản xuất (tỷ lệ này ở nhóm không tham gia HTX là 20%);
14% được hỗ trợ xây dựng thương hiệu (tỷ lệ này ở nhóm không
tham gia HTX là 7%). 100% phụ nữ nông thôn tham gia HTX được
cung ứng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất cho thành viên.
3.2.2. Sự thay đổi về năng lực tiếp thu, sử dụng các kiến thức,
kỹ năng trong phát triển sản xuất
Theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 2019, tỷ lệ lao động nữ đã
qua đào tạo trong tổng số lao động nữ theo trình độ chuyên môn kỹ
thuật có sự tăng lên nếu so sánh năm 2013 và 2019, còn đến 79,5%
lao động nữ chưa qua đào tạo.
Qua phỏng vấn 150 phụ nữ nông thôn trong mô hình HTX kiểu
mới (tại Thái Nguyên, Quảng Bình, Cần Thơ), so sánh với thời điểm

18
trước khi tham gia HTX có thể cho thấy HTX đã tạo điều kiện cho
phụ nữ nông thôn tham gia nhiều hơn vào các hoạt động nâng cao
năng lực. Trước khi tham gia HTX chỉ có 38% được tham gia các
hoạt động tập huấn nâng cao năng lực, sau khi tham gia HTX, con số
này tăng đáng kể, lên đến 94,4%.
So sánh giữa nhóm phụ nữ nông thôn có tham gia HTX và nhóm
không tham gia HTX cho thấy, sau khi tham gia HTX hoặc loại hình
kinh tế hiện tại, nhóm không tham gia HTX có tỷ lệ được tập huấn
nâng cao năng lực chỉ chiếm 75,6%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm tham
gia HTX là 94,4%. 100% phụ nữ nông thôn tham gia HTX cho biết
sau khi tham gia HTX kiến thức, kỹ năng được nâng lên.
3.2.3. Sự thay đổi về năng lực thu thập, phân tích, quản lý, ứng
dụng thông tin trong phát triển sản xuất
Theo Tổng cục thống kê, 43% hộ gia đình do nam giới làm chủ
hộ được nhận thông tin từ các cán bộ khuyến nông 12 tháng trước
điều tra so với 35% gia đình do phụ nữ làm chủ hộ.
Đối với 150 phụ nữ nông thôn tham gia HTX (ở Thái Nguyên,
Quảng Bình, Cần Thơ), đối với hoạt động cung cấp thông tin, nâng
cao nhận thức, trong nhóm các chị tham gia HTX, trước khi tham gia
HTX, chỉ có 49% phụ nữ được nghe các thông tin liên quan đến công
việc sản xuất kinh doanh của mình và sau khi tham gia HTX, 100%
phụ nữ được cung cấp các thông tin. Đối với việc ứng dụng thông tin
trong ra quyết định sản xuất, đối với nhóm phụ nữ nông thôn tham
gia HTX, 100% các chị cho biết khi được tiếp cận thông tin sẽ giúp


Xemtailieu.com không chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề bản quyền tài liệu được thành viên tự nguyện đăng tải lên.