Lời mở đầu
Công cuộc cải cách thủ tục hành chính đã được Đảng và Nhà nước ta khởi
xướng và thực hiện trong 15 năm qua . Sở dĩ Đảng và Nhà nước coi trọng cải cách
thủ tục hành chính đến như vậy là do thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến
việc thực hiện thẩm quyền của các chủ thể quản lí hành chính nhà nước , tới việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức .
Thể chế hoá đường lối của Đảng , Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp
luật quy định về cải cách thủ tục hành chính , trong đó đặc biệt quan trọng là về cơ
chế “ một cửa - một dấu ” . Quyết định 181/2003/QĐ-TTg, ngày 4-9-2003, ban
hành Quy chế thực hiện cơ chế "một cửa" tại các cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương mà chúng ta thường gọi là thực hiện theo cơ chế "một cửa". Và tiếp
theo là Quyết định số 93/2007/NĐ-TTg, ngày 22-6-2007, của Thủ tướng Chính phủ
về "Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương" .
Trong thời gian qua, thực hiện cơ chế "một cửa" cho thấy đã có bước chuyển
căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà
nước với tổ chức, công dân, giảm phiền hà cho tổ chức, công dân, hạn chế tệ quan
liêu, tham nhũng, cửa quyền của cán bộ, công chức, được đông đảo nhân dân đồng
tình, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao.
Tuy nhiên, bước đầu "một cửa" mới chỉ thực hiện trong nội bộ sở, ngành,
quận, huyện, chưa tạo sự kết nối liên thông, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các
ngành, các cấp, nghĩa là còn "đứt khúc" trong quá trình phối hợp giải quyết công
việc, thậm chí cản trở lẫn nhau giữa các cơ quan, đơn vị .
Để thực hiện cơ chế “ một cửa ” được thuận lợi thì chúng ta cần phải cải
cách bộ máy hành chính tinh , gọn , thẩm quyền và trách nhiệm rõ rang ; xây dựng
quy chế công chức , công vụ đảm bảo đội ngũ công chức trên thực tế có năng lực ,
lương tâm và trách nhiệm .
1

Bài tập cá nhân của em bàn về cơ chế “một cửa - một dấu”, đây là một vấn
đề nghiên cứu chuyên sâu vừa mang tính lí luận vừa mang tính thực tiễn được đúc
rút từ tình hình thực hiện cơ chế “một cửa”. Do đó, bài làm của em có thể không
tránh khỏi sai sót. Em mong nhận được sự góp ý của các thầy, các cô để bài làm
của em có thể hoàn thiện hơn .
Em xin chân thành cảm ơn !

2

Nội dung
A. Nội dung cơ chế “ một cửa ” :
I. Bối cảnh ra đời :
Cơ chế “một cửa” về thực hiện thủ tục hành chính trong việc giải quyết công
việc của công dân, tổ chức được đề ra đầu tiên trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp của
nước ngoài tại Quyết định số 366/HĐBT ngày 7/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) ban hành chế độ thẩm định các dự án có vốn đầu tư trực tiếp của
nước ngoài. Cơ chế “một cửa” và “một cửa tại chỗ” đã trở thành nguyên tắc trong
hoạt động của các Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất từ đó đến nay.
Thực hiện Nghị quyết số 38/CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ về cải cách
một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức, từ
năm 1995 nhiều địa phương đã chủ động thí điểm thực hiện áp dụng cơ chế giải
quyết công việc theo mô hình “một cửa” hoặc “một cửa, một dấu”.
Đi đầu trong lĩnh vực này là thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp theo thành phố
Hồ Chí Minh, năm 1996 và 1997 có thêm 4 tỉnh thành phố là; Hà Nội, Hải Phòng,
Bình Dương và Hoà Bình thực hiện thí điểm cơ chế “một cửa”; năm 1998 thêm 5
tỉnh là: Quảng Ninh, Trà Vinh, Tây Ninh, Đồng Nai, Cần Thơ; đến năm 1999 có
thêm 4 tỉnh: Thừa Thiên Huế, Đồng Tháp, Quảng Bình, Bà Rịa - Vũng Tàu; năm
2003 thêm các tỉnh: Thái Nguyên, Quảng Trị, Thanh Hoá v.v… Tính đến tháng
5/2003 đã có 35 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thí điểm thực hiện cơ chế
“một cửa” tại 196 đơn vị cấp sở, 160 đơn vị cấp huyện.
Được sự nhất trí của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính
của Chính phủ đã chỉ đạo Ban Thư ký tổ chức khảo sát và kiểm tra việc thực hiện
thí điểm cơ chế “một cửa” tại một số tỉnh, thành phố để đề xuất phương án nhân
rộng. Tháng 6/2003, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ đã chỉ đạo Bộ
Nội vụ và Bộ Tài chính tổ chức hội nghị tổng kết thí điểm mô hình “một cửa” .
3

Căn cứ vào kết luận của Hội nghị tổng kết, Bộ Nội vụ xây dựng quy chế thực
hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trình Thủ
tướng Chính phủ và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
181/2003/QĐ-TTg ngày 4/9/2003 ( sau đây gọi là quyết định 181 ). Theo Quyết
định của Thủ tướng Chính phủ, cơ chế “một cửa” được thực hiện đối với tất cả cấp
tỉnh và cấp huyện từ 01/01/2004, đối với cấp xã từ ngày 01/01/2005.
Và sau đó căn cứ vào Quyết định số 94/2006/QĐ-TTg ngày 27 tháng 4 năm
2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch cải cách hành chính Nhà nước
giai đoạn 2006 – 2010 và xét đề nghị của bộ trưởng bộ nội vụ , Thủ tướng chính
phủ đã ban hành Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 về
"Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương" ( sau đây gọi là quyết định 93 ) .
II . Nội dung cơ chế :
Nội dung cơ chế được quy định cụ thể tại quyết định 93 :
Điều 1. Cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
1. Cơ chế một cửa là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân, bao gồm cả
tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân) thuộc trách nhiệm,
thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước, từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy
tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước.
2. Cơ chế một cửa liên thông là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân
thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp
hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết
đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
của một cơ quan hành chính nhà nước.

4

Điều 2. Các nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
1. Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.
2. Công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ, hồ sơ và thời
gian giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân.
3. Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
4. Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức, cá nhân.
5. Đảm bảo sự phối hợp giải quyết công việc giữa các bộ phận, cơ quan hành
chính nhà nước để giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân.

Điều 3. Cơ quan áp dụng cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
1. Cơ chế một cửa được áp dụng đối với các cơ quan sau:
a) Văn phòng Ủy ban nhân dân, các sở và cơ quan tương đương (sau đây gọi là cơ
quan chuyên môn cấp tỉnh) thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh);
b) Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Ủy
ban nhân dân cấp huyện);
c) Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã);
d) Các cơ quan được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc đặt tại địa phương của
các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.
2. Cơ chế một cửa liên thông được áp dụng đối với các cơ quan quy định tại khoản
1 Điều 3 Quy chế này. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ các quy định của
pháp luật và tình hình thực tế của địa phương quyết định những loại công việc
thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông.
5

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho
phép chưa triển khai cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại một số huyện
đảo có dân số ít, số lượng giao dịch công việc của tổ chức, cá nhân với cơ quan
hành chính ít và tại các xã đặc biệt khó khăn ở khu vực vùng sâu, vùng xa, miền
núi, hải đảo.
Điều 4. Phạm vi áp dụng cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
1. Thực hiện cơ chế một cửa trong giải quyết các công việc liên quan trực tiếp tới
tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của
các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương quy định tại khoản 1 Điều 3 Quy
chế này.
2. Thực hiện cơ chế một cửa liên thông để giải quyết một số lĩnh vực công việc
liên quan trực tiếp tới tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật cùng thuộc
trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước quy định tại
khoản 1 Điều 3 Quy chế này.
Còn mô hình "một dấu" là ở một cấp chính quyền chỉ có một pháp nhân công
quyền duy nhất, chỉ sử dụng dấu Quốc huy của UBND quận, huyện; các phòng ban
chuyên môn chỉ là cơ quan tham mưu giúp việc. Mục đích của "một dấu" là để
quản lý chặt chẽ văn bản đầu vào, các hình thức ban hành văn bản pháp quy ra bên
ngoài của các phòng và quản lý đội ngũ cán bộ.

B. Tình hình thực hiện cơ chế “ một cửa - một dấu ” :
I. Tình hình triển khai quyết định 181 và quyết định 93 :
Sau 5 năm thực hiện cơ chế “một cửa”, nhân dân và doanh nghiệp trong
nước, các nhà đầu tư nước ngoài đồng tình ủng hộ và tỏ thái độ hài lòng. Nhiều địa
phương đã mở rộng cơ chế này đối với một số đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công có
6

liên quan nhiều đến người dân, doanh nghiệp, một số địa phương đã tổ chức thí
điểm thực hiện cơ chế “một cửa” liên thông giữa các cấp chính quyền. Qua thực
tiễn đã khẳng định sự chuyển biến rõ nét về phương thức hoạt động của các cấp
chính quyền địa phương. Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế “một cửa” ở các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương còn bộc lộ một số thiếu sót, khuyết điểm cần được
khắc phục để cơ chế “một cửa” thực sự là một phương thức làm việc mới, có tính
chất cải cách lề lối làm việc của các cơ quan hành chính các cấp. Sau đây là những
nội dung cụ thể:
1. Ở Trung ương :
Tháng 01/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/2004/NQ-CP, tại
phần VI mục 1 của Nghị quyết khẳng định: “Các bộ, cơ quan ngang bộ và địa
phương tiếp tục rà soát loại bỏ những thủ tục hành chính không phù hợp, thực hiện
tốt quy chế “một cửa” tại các cơ quan hành chính nhà nước khi giải quyết các vụ
việc liên quan đến người dân”. Ngày 31/12/2007, Thủ tướng Chính phủ có Công
văn số 2057/TTg-CCHC về việc áp dụng cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên
thông tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ. Theo đó, Thủ tướng giao các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ rà soát, thống kê tất cả các thủ tục hành chính thuộc thẩm
quyền giải quyết của Bộ, cơ quan ngang Bộ (bao gồm tại cơ quan Bộ, ngang Bộ và
các đơn vị trực thuộc, quyết định việc lựa chọn áp dụng cơ chế một cửa trong giải
quyết các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền, tập trung vào các thủ tục hành
chính có liên quan về cấp giấy phép, giấy đăng ký, xác nhận, giấy chứng nhận,
chứng chỉ về xuất, nhập cảnh và các thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến
người dân và doanh nghiệp.
Tháng 9/2003, Bộ Nội vụ đã xây dựng và ban hành tài liệu hướng dẫn thực
hiện cơ chế “một cửa” ở Uỷ ban nhân dân cấp huyện; tháng 10/2004, Bộ tiếp tục
xây dựng và ban hành tài liệu hướng dẫn thực hiện cơ chế “một cửa” ở Uỷ ban nhân
dân cấp xã. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2003 đến tháng 12/2004, Bộ Nội vụ
7

đã cử nhiều đợt cán bộ giúp các tỉnh, thành phố tổ chức tập huấn về Chương trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và phương pháp tổ
chức, kỹ năng thực hành tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở các cấp tỉnh, huyện,
xã; phổ biến kinh nghiệm các nơi đã thực hiện tốt cơ chế “một cửa”; cùng với Cơ
quan Hợp tác và Phát triển Thuỵ sỹ (SDC) và chỉ đạo Dự án VIE 01/024/B Bộ Nội
vụ trợ giúp xây dựng mẫu cơ chế “một cửa” ở cấp huyện cho 26 tỉnh, thành phố.
Công tác thông tin tuyên truyền theo Quyết định số 178/2003/QĐ-TTg ngày
03/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó nội dung tuyên truyền về cơ chế “một
cửa” được đẩy mạnh; các cơ quan truyền thông, báo chí ở Trung ương như Đài
Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Nhân
dân … liên tục có tin, bài phản ánh về cơ chế “một cửa”. Thông qua các cuộc họp
giao ban báo chí giữa Bộ Nội vụ với các cơ quan truyền thông, báo chí ở Trung
ương và địa phương, cơ chế “một cửa” được xác định là một trong những nội dung
trọng tâm của công tác tuyên truyền.
Bộ Nội vụ, Ban Thư ký Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ
thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các địa phương trong suốt thời gian triển khai cơ
chế “một cửa”, góp phần tích cực hướng dẫn các địa phương thực hiện đúng các
quy định của Quyết định 181.
2. Ở địa phương :
Sau khi Quyết định 181 và quyết định 93 được ban hành, hầu hết các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương đã tích cực, khẩn trương triển khai các nhiệm vụ
được quy định trong Quy chế ban hành kèm theo, cụ thể là:
- Ban hành văn bản của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quán triệt triển
khai Quyết định 181 và quyết định 93; bố trí, thành lập các cơ quan, đơn vị chủ trì,
trực tiếp giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về vấn đề này.

8

- Chỉ đạo các sở, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trực thuộc xây
dựng Đề án thực hiện cơ chế “một cửa” trên cơ sở tham khảo, vận dụng theo các bộ
tài liệu hướng dẫn của Bộ Nội vụ, như:
+ Quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định thủ tục hành
chính áp dụng thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh đối với các lĩnh vực thuộc thẩm
quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã;
+ Thành lập, bố trí cán bộ, công chức đến làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả;
+ Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả;
+ Ban hành Quy chế về phối hợp hoạt động của các phòng, ban chức năng có
liên quan.
- Tiến hành tập huấn đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ tại Bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả, các cán bộ, công chức có liên quan. Đối với cấp xã,
đối tượng tập huấn gồm cả Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.
- Rà soát thủ tục hành chính theo các lĩnh vực công việc quy định tại Quyết
định 181 và quyết định 93, và lĩnh vực mở rộng theo quyết định của Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh.
- Đầu tư kinh phí, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc xây dựng mới hoặc
cải tạo trụ sở, phòng làm việc, mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác.
- Tiến hành các hoạt động thông tin, tuyên truyền về việc thực hiện cơ chế
"một cửa” trong giải quyết công việc cho tổ chức, công dân của cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương.

II. Kết quả thực hiện :
9

1. Về số lượng :
- Cấp tỉnh :
+ Đối với các sở thuộc diện bắt buộc thực hiện trước theo quyết định 181
(Sở Lao động TB và XH, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở
Xây dựng): đã có 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai, đạt tỷ lệ
98,04%.
+ Đối với các sở, ngành khác đạt tỷ lệ 58,36%
- Cấp huyện :
Tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã triển khai ở 661/671 đơn
vị, đạt tỷ lệ 98,50%. Chỉ còn 7/64 tỉnh chưa triển khai cơ chế này 100%.
- Cấp xã :
Tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã triển khai ở 9422/10873
đơn vị, đạt tỷ lệ 86,6%. Đã có 36/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển
khai đồng loạt 100%
2. Về chất lượng :
a/ Về việc chấp hành quy định của Quyết định 181 và quyết định 93 :
Hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều chấp hành nghiêm
túc quy định của Quyết định 181. 35 tỉnh, thành phố thí điểm (trước thời điểm tháng
9/2003) đã điều chỉnh các quy chế cho phù hợp với các quy định của Quyết định
181 và sau đó là quyết định 93 , tiến hành mở rộng ra toàn tỉnh, chỉ sau một thời
gian ngắn đã có nhiều địa phương thực hiện 100% ở các cấp chính quyền như thành
phố Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Tháp v.v…
Các tỉnh còn lại đã tổ chức đi nghiên cứu, khảo sát học tập kinh nghiệm của các địa
phương làm trước, đồng thời căn cứ vào hướng dẫn của Bộ Nội vụ để triển khai.
Tính đến hết năm 2004, 64 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã cơ bản triển
khai ở cấp tỉnh đối với 4 sở bắt buộc thực hiện trước là Sở Tài nguyên và Môi
10

trường, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở xây
dựng và Uỷ ban nhân dân cấp huyện; đến hết năm 2005 cấp xã đã cơ bản triển khai,
thể hiện tính nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm của các cấp lãnh đạo trong việc
chấp hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ .
b/Về nội dung thực hiện cơ chế “một cửa” và kết quả đạt được trong giải
quyết

công

việc

:

64 tỉnh, thành phố khi thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cấp chính quyền
đều tuân thủ các nội dung được quy định trong Điều 4 và Điều 5 của Quy chế ban
hành kèm theo Quyết định 181. Các nội dung đều được niêm yết công khai, minh
bạch tại nơi làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, cùng với các quy định về
phí, lệ phí rõ ràng, theo đúng nguyên tắc: Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng,
đúng pháp luật; công khai phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc của tổ chức,
công dân .
Qua 5 năm thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ quan hành chính nhà nước các
cấp ở địa phương đã giải quyết cơ bản những yêu cầu của dân và doanh nghiệp
trong các lĩnh vực đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và
quyền sử dụng đất, cấp giấy phép xây dựng, các quyết định về đầu tư, các lĩnh vực
về đăng ký hộ khẩu, hộ tịch, chính sách xã hội v.v…chất lượng và thời gian giải
quyết công việc được nâng lên, người dân chỉ cần đến một nơi, với thời gian nhất
định để được giải quyết công việc đúng nguyện vọng, không phải đi lại nhiều lần;
đã rút ngắn đáng kể thời gian cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo quy
định chung là 90 ngày, nhiều tỉnh đã giải quyết chỉ trong 30 ngày như tỉnh Quảng
Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh v.v…), cấp giấy phép xây
dựng (theo quy định chung là 30 ngày, rất nhiều tỉnh chỉ giải quyết trong vòng 15
ngày hoặc dưới 15 ngày), trong lĩnh vực cấp phép đầu tư nhiều tỉnh chỉ giải quyết
trong vòng từ 3 đến 7 ngày, chậm là 15 ngày v.v…

11

c/ Nâng cao chất lượng của tổ chức và cán bộ, công chức :
Để thực hiện được kết quả đã nêu ở mục b , các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương đã quan tâm đến việc chấn chỉnh tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức.
- Về tổ chức bộ máy: Hầu hết các địa phương đã rà soát lại cơ cấu tổ chức bộ
máy phù hợp ở cấp tỉnh và cấp huyện. Các sở cấp tỉnh tổ chức tốt Bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả, nhất là các sở bắt buộc thực hiện trước; ở cấp huyện đã tổ chức
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân, đại diện cho Uỷ
ban nhân dân cấp huyện tiếp nhận và trả kết quả cho tổ chức, công dân.
- Về cán bộ, công chức: Phần lớn cán bộ, công chức được điều động làm việc
tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở các cấp là các đồng chí có kinh nghiệm công
tác, hiểu biết chính sách, pháp luật, có chuyên môn về lĩnh vực công việc phụ trách.
Ngoài ra còn được tổ chức tập huấn về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hành chính và
các nội dung cơ bản về thực hiện cơ chế “một cửa”.
- Thực tế 5 năm qua, cán bộ, công chức làm việc ở Bộ phận tiếp nhận và trả
kết quả đã trưởng thành rõ rệt, tinh thần trách nhiệm đối với công việc được nâng
cao, lấy mục đích phục vụ công dân, tổ chức làm mục tiêu công tác, được người
dân đánh giá tốt về thái độ tiếp xúc và cung cách làm việc.
d/Về cơ sở vật chất:
Nhìn chung các địa phương đã chú ý đến trụ sở làm việc và trang thiết bị của
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, như máy vi tính, máy fax, điện thoại, trang bị lại
bàn làm việc, tủ đựng tài liệu, máy photocopy v.v… Ở cấp tỉnh, các sở đã sửa chữa
lại phòng làm việc để có chỗ tiếp dân tốt hơn. Cấp huyện, nhiều nơi xây dựng dựng
mới trụ sở, phòng làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả như các tỉnh Hà
Tĩnh, Đồng Tháp, Cà Mau, Hải Phòng v.v… Cấp xã cũng được củng cố tốt như ở
Hà Tĩnh, Đắk Lắk, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình … Tuy nhiên, kết quả kiểm tra

12

thực tế ở một số tỉnh, thành phố thì trụ sở vẫn cần được nghiên cứu sửa chữa hoặc
xây dựng lại, mới đạt yêu cầu.
e/ Quan hệ giữa chính quyền với người dân và các tổ chức, doanh nghiệp :
Quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cấp chính quyền địa phương đã
tạo điều kiện để chính quyền gần dân hơn. Lãnh đạo, cán bộ, công chức các cấp đã
hướng mục tiêu công việc là phục vụ nhân dân, đã giảm đi nhiều phiền hà mà trước
đây người dân phải gánh chịu như sự sách nhiễu của cán bộ, công chức, không rõ
ràng về thủ tục, thiếu công khai, minh bạch về phí, lệ phí, phải đi lại nhiều lần mà
vẫn chưa giải quyết được công việc. Nay người dân đã được đón tiếp tốt hơn, có
chỗ ngồi chờ, được hiểu rõ các thủ tục và thời gian giải quyết công việc. Thái độ
của cán bộ, công chức đối với người dân thể hiện trọng thị hơn, họ thấy mình được
tôn trọng, nên tin tưởng hơn vào chính quyền .
f/ Đánh giá về chủ trương thực hiện cơ chế “một cửa” theo Quyết định 181
và quyết định 93 :
 Về chủ trương :
Sau 5 năm thực hiện cơ chế “một cửa” ở tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương đã khẳng định:
-Mọi thủ tục giải quyết công việc được công khai minh bạch, kể cả phí và lệ
phí.
- Thái độ của cán bộ, công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đã cơ
bản làm cho người dân hài lòng
- Trụ sở tiếp dân được các cấp quan tâm nên có được cải thiện hơn, có chỗ
để công dân ngồi chờ và các điều kiện phục vụ tốt.
- Thời gian giải quyết đúng hẹn

13

 Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế – xã hội :
Thực hiện cơ chế “một cửa” 5 năm qua đã giải quyết được một số vướng
mắc lớn về các thủ tục thành lập doanh nghiệp, cấp giấy phép đầu tư, cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp giấy đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy
phép xây dựng, các thủ tục về thuế, hải quan, xuất nhập khẩu, chính sách xã hội
v.v… Đây là những thủ tục có ảnh hưởng lớn đến sản xuất kinh doanh của người
dân, doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài. Khi thực hiện cơ chế “một cửa” các
cấp chính quyền đã chú ý giải quyết một số việc quan trọng như :
- Rà soát để sửa đổi bổ sung hoặc bãi bỏ một số thủ tục hành chính gây phiền
hà cho người dân và doanh nghiệp của 15 bộ, ngành và 21 tỉnh, thành phố trong
năm 2004 trên các lĩnh vực xuất nhập cảnh, tài chính, hải quan, giao thông vận tải,
giáo dục đào tạo, du lịch, công chứng, hộ khẩu, quản lý hộ tịch, lý lịch tư pháp, nhà
đất, thương mại, xây dựng, văn hoá thông tin …; đã bãi bỏ 140 loại phí, lệ phí do
Trung ương quy định và 203 loại phí, lệ phí do địa phương ban hành. Trên cơ sở đó
đã khẳng định tính minh bạch của các loại công việc được giải quyết cho công dân
và tổ chức.
- Quy định chặt chẽ thời gian giải quyết hồ sơ của công dân, tổ chức chủ yếu
các lĩnh vực đầu tư, thành lập doanh nghiệp, cấp giấy phép kinh doanh, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, cho thuê đất. Hầu hết công việc được giải quyết
nhanh hơn theo quy định của luật như lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh v.v… hoặc
lĩnh vực hàng hải được tổ chức theo cơ chế “một cửa” tại các cảng vụ đã đẩy nhanh
tiến độ thủ tục tàu vào cảng và rời cảng, làm lợi hàng tỷ đồng cho các nhà đầu tư,
doanh nghiệp.
Kết quả của việc thực hiện cơ chế “một cửa” đã làm cho các doanh nghiệp
trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài hài lòng, tin tưởng vào chính sách phát triển
kinh tế của Việt Nam. Do đó Việt Nam được đánh giá như một điểm sáng về nỗ lực
14

cải thiện môi trường kinh doanh, là một trong nhóm 10 quốc gia có tốc độ cải cách
nhanh nhất thế giới. Thực tế cũng đã khẳng định địa phương nào đẩy mạnh cải cách
hành chính nói chung và thực hiện nghiêm túc cơ chế “một cửa” nói riêng thì nơi
đó phát triển kinh tế – xã hội tốt và bền vững như tỉnh Bình Dương, Bà Rịa – Vũng
Tàu, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh …., các thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh,
Hải Phòng là những minh chứng cụ thể.

III. Một số tồn tại và nguyên nhân :
Bên cạnh các kết quả tích cực đã đạt được sau 5 năm triển khai thực hiện cơ
chế “một cửa”, nghiêm túc kiểm điểm vẫn còn một số tồn tại thiếu sót và một số
vướng mắc cần được khắc phục sau đây:
1. Một số tồn tại, vướng mắc :
a/ Công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo một số tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương chưa nghiêm túc, thiếu kiên quyết, thực hiện còn hình thức, chiếu lệ
hoặc còn máy móc, thiếu sáng tạo nên hiệu quả không cao. Từ đó dẫn đến một số
vấn đề cần được điều chỉnh kịp thời như:
- Thiếu quan tâm đến những quy định cụ thể trong Quyết định 181 và Quyết
định 93 nên tên gọi của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn tuỳ tiện, không đúng
quy định.
- Chưa quan tâm đúng mức đến trụ sở tiếp dân nên nhiều nơi trụ sở không có
hoặc có trụ sở nhưng không đạt yêu cầu, theo thống kê vẫn còn khoảng 10% đơn vị
cấp xã chưa có trụ sở, 40% trụ sở là nhà cấp 4 đã cũ nát.

15

- Không chú ý để trang bị đầy đủ phương tiện làm việc cho cán bộ, công
chức và chưa chú ý đến chính sách đãi ngộ cho cán bộ, công chức làm việc ở Bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả .
- Có địa phương đã xuất hiện ý tưởng không tiếp tục thực hiện cơ chế “một
cửa” như một số huyện ở tỉnh Đắk Lắk, Tiền Giang.
b/ Hệ thống thể chế và cơ chế phối hợp còn yếu, cụ thể:
- Tính ổn định và đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật chưa cao như
các quy định trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, tư pháp v.v…
- Thủ tục hành chính do Chính phủ và các bộ, ngành ban hành còn phức tạp,
gây phiền hà cho việc thực hiện của cấp dưới. Một số quy định còn xung đột, điển
hình như việc quy định chức năng, nhiệm vụ của văn phòng đăng ký quyền sử dụng
đất là một đơn vị sự nghiệp có thu với bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo Quyết
định 181 (Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV ngày 31/12/2004 của
Liên Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ).
- Cơ chế phối hợp giữa các đơn vị chức năng chưa tốt nên còn nhiều hồ sơ
chưa trả đúng hẹn. Một số đơn vị chưa thực hiện quy định chung về cơ chế “một
cửa” mà vẫn theo quy định riêng của ngành, như các lĩnh vực liên quan đến hộ khẩu
của ngành Công an.
c/ Trình độ cán bộ, công chức ở Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn nhiều
bất cập, tỷ lệ đạt chuẩn thấp, nhiều nơi mới chỉ đạt từ 20 – 30%, có nơi chỉ đạt 12 –
18%; tác phong làm việc còn theo kiểu cũ tới 30%.
d/ Công tác tuyên truyền còn nhiều hạn chế, do vậy người dân và các tổ chức
xã hội chưa hiểu biết đầy đủ về cải cách hành chính và thực hiện cơ chế “một cửa”,
còn nhiều quan niệm, nhận thức sai về cơ chế “một cửa”.
e/ Thiếu kinh phí hoạt động là phổ biến ở tất cả các tỉnh, thành phố. Do vậy
đã dẫn đến tình trạng thiếu điều kiện thực hiện trong quá trình triển khai cơ chế
“một cửa”.

16

* Qua 10 năm thực hiện mô hình "một dấu" ở TP Hồ Chí Minh, cũng như
nhiều địa phương khác, đã bộc lộ những bất cập. Trước hết là việc quy định "một
dấu" chỉ có trưởng phòng thừa ủy quyền mới được ký. Thí dụ trong cấp phép xây
dựng, khâu kiểm tra và đóng dấu bản vẽ kỹ thuật, khối lượng công việc rất nhiều,
chi tiết kỹ thuật phức tạp, nếu trước kia là công việc của Phòng Quản lý đô thị thì
nay dồn hết sang cho văn phòng UBND quận thừa ủy quyền kiểm tra và đóng dấu.
Trong giáo dục, theo quy định của pháp luật, việc cấp và chứng nhận văn
bằng giáo dục là thẩm quyền của các Phòng Giáo dục - đào tạo quận, huyện nay lại
do UBND quận, huyện ký và đóng dấu. Điều này trái với quy định của pháp luật.
Trao đổi ý kiến về những hạn chế, bất cập của mô hình "một cửa" - "một dấu",
Giám đốc Sở Nội vụ TP Hồ Chí Minh Châu Minh Tỷ thừa nhận: "Việc áp dụng cơ
chế "một dấu" không thuận lợi cho người dân, gây ùn tắc cho quận, huyện và bất
tiện trong một số lĩnh vực. Cần bỏ cơ chế "một dấu", tập trung vào "một cửa".
"Một cửa" hiện là nơi phải thường xuyên va chạm, tiếp xúc với dân, chịu sức
ép khá lớn trong công việc, nhưng các chế độ, chính sách, quyền lợi thì chẳng có gì
khác biệt so với các bộ phận chuyên môn khác. Đây cũng là một vấn đề khiến các
nhà cải cách quan tâm, xem xét. Tình trạng này, nếu kéo dài, chắc chắn sẽ tạo ra
tâm lý chán nản trong đội ngũ cán bộ ở bộ phận "một cửa".
 Ngày 19/12/2007, Bộ Nội vụ có Báo cáo số 3651/BC-BNV về tổng kết
thí điểm thực hiện cơ chế một cửa tại các Bộ. Trong đó còn có nhiều mặt
hạn chế như :
Cơ quan Bộ Tài chính qua 3 tháng triển khai thí điểm, không có công việc
nào được giải quyết thông qua Bộ phận một cửa; Tổng cục Hải quan thuộc Bộ Tài
chính đánh giá thời gian, chất lượng giải quyết công việc theo cơ chế một cửa tại
cơ quan Tổng cục so với trước là không hiệu quả hơn, không nhanh hơn về thời
gian.

17

Trong 8 tháng triển khai thí điểm, Bộ Nội vụ không nhận được kiến nghị,
vướng mắc của cơ quan, tổ chức, cá nhân về thủ tục hành chính nào trong số 13 thủ
tục được quy định giải quyết theo cơ chế một cửa, Bộ phận một cửa cũng chỉ nhận
được 02 hồ sơ thủ tục hành chính. Tuy nhiên, do đặc thù của công việc nên quá
trình giải quyết không khác trước nhiều.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư do tác động của tiến trình phân cấp nên Bộ chỉ còn
áp dụng giải quyết theo cơ chế một cửa đối với 01 loại công việc là Cấp giấy chứng
nhận đầu tư đối với dự án đầu tư ra nước ngoài, và số lượng thực tế cũng là quá ít
(chỉ khoảng 6 Giấy/01 tháng).
Trong thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 6 tháng tiếp nhận và giải quyết
theo cơ chế một cửa đối với 36 (trong tổng số 504) yêu cầu công việc liên quan đến
thành lập trường Đại học và Cao đẳng, tuy nhiên chưa trả được bất kỳ hồ sơ nào,
do thủ tục hành chính trong lĩnh vực này quá phức tạp, còn phải xin ý kiến nhiều
Bộ, ngành có liên quan.

2. Nguyên nhân :
a/ Quyết tâm chính trị của cấp uỷ và người đứng đầu địa phương (Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) chưa cao ở nhiều tỉnh, thành phố. Bất cập này chủ yếu
xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về cải cách hành chính nhà nước, về cơ chế
“một cửa”, còn mang nặng tư duy làm việc theo cơ chế cũ, không muốn đụng chạm
tới lợi ích cục bộ của một bộ phận cán bộ, công chức, ngành, lĩnh vực, do đó chần
chừ, trì hoãn thực hiện các yêu cầu cải cách.
Mặt khác, do không xác định được sự cần thiết phải thay đổi phương thức
làm việc của cơ quan hành chính nhà nước là hướng tới phục vụ dân, tạo điều kiện
thuận lợi tối đa cho người dân và tổ chức, nên chưa kiên quyết, thiếu sáng tạo trong
chỉ đạo, điều hành. Ngay cả đối với công tác sơ, tổng kết các vấn đề quan trọng

18

trong cải cách hành chính theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ cũng không được
một số địa phương quan tâm thực hiện.
b/ Thiếu chính sách đãi ngộ cho cán bộ, công chức ở Bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả, đồng thời chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý những cá nhân, đơn vị gây
cản trở hoặc không thực hiện cơ chế “một cửa”. Do đó, chưa tạo được động lực để
thực hiện cơ chế “một cửa” một cách tốt nhất.
c/ Các quy định của các bộ, ngành Trung ương còn thiếu đồng bộ, chưa
thống nhất, tính ổn định chưa cao, còn nhiều thủ tục hành chính gây phức tạp,
phiền hà cho tổ chức, công dân.
d/ Quy định của Quyết định 181 còn mang tính đồng loạt, chưa chú ý đến
đặc điểm của các vùng miền và trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở,
do đó khi thực hiện đồng loạt đã gặp phải một số vướng mắc như thiếu trụ sở,
không đủ cán bộ, công chức đạt chuẩn v.v…
 Nguyên nhân của các mặt hạn chế về việc thực hiện cơ chế một cửa ở các
Bộ :
- Các Bộ có chức năng quản lý ở tầm vĩ mô: xây dựng thể chế, chính sách,
quy hoạch, kế hoạch và thanh tra, kiểm tra trong ngành, lĩnh vực, không giống như
chức năng, nhiệm vụ ở các sở hoặc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, xã đang thực hiện
cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
- Do Bộ là cơ quan có chức năng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực phụ trách
nhiều lĩnh vực công việc có thủ tục cần sự phối hợp, lấy ý kiến của nhiều cơ quan
quản lý nhà nước nên một số cụng việc khó quy định rõ thời gian trả lời.
- Mặt khác nhiều công việc có tính chất phức tạp, cần phải có sự trao đổi,
thống nhất giữa cơ quan giải quyết với tổ chức, cá nhân, do đó việc tách biệt giữa
khâu tiếp nhận hồ sơ (xử lý theo quy định của thủ tục hành chính) với khâu giải
quyết hồ sơ (nội dung) trong nhiều trường hợp là không phù hợp với thực tiễn, do
dó cung không phù hợp với yêu cầu, nguyên tắc của cơ chế một cửa (các báo cáo
19

của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Nội vụ, một số Cục thuộc Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Hải quan thuộc Bộ
Tài chính, một số Cục thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ giáo dục và đào
tạo...).
- Hiện nay, công tác phân cấp được đẩy mạnh, kết quả là số lượng thủ tục
hành chính do Bộ, ngành Trung ương trực tiếp giải quyết còn lại ít và khối lượng
xử lý cũng không nhiều. Do đó, việc bố trí thường xuyên cán bộ, công chức làm
việc tại Bộ phận một cửa sẽ gây ra tình trạng lãng phí về nhân lực, địa điểm, cơ sở
vật chất (báo cáo của Bộ Tài chính, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư).
C. Giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng cơ chế “một cửa”
I. Những sáng kiến , thí điểm quan trọng :
Quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” nhiều tỉnh, thành phố đã có những thí
điểm đạt nhiều kết quả rất tích cực, có thể đánh giá để nhân rộng một số thí điểm
điển hình sau đây:
1. Thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tỉnh Quảng
Trị, sau đó nhân rộng ra 4 tỉnh là Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An.
Đây là một nghiên cứu nhiều năm được sự hỗ trợ của dự án SIDA Thuỵ Điển. Kết
quả đã rút ngắn được thời gian cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ
gia đình và tổ chức từ 90 ngày xuống còn dưới 30 ngày, được nhân dân đồng tình
ủng hộ .
2. Thành lập tổ chuyên viên nghiệp vụ hành chính công, trực tiếp xử lý, tham
mưu trình lãnh đạo giải quyết các hồ sơ thuộc lĩnh vực được phân công ở bộ phận
tiếp nhận và trả kết quả, xây dựng quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo tiêu
chuẩn ISO 9001:2000 tại một số quận, huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh, như
các Quận 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 11, Bình Thạnh, Tân Phú, huyện Bình Chánh, Cần Giờ
…. Đồng thời, các sở, ngành, Uỷ ban nhân dân các quận, huyện của thành phố luôn
duy trì hoạt động khảo sát, tiếp nhận ý kiến phản hồi của người dân đối với hoạt
20


Tài liệu liên quan
Xemtailieu.com không chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề bản quyền tài liệu được thành viên tự nguyện đăng tải lên.