ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THU THANH

VAI TRÒ CỦA MẠNG LƯỚI XÃ HỘI VỚI VIỆC LÀM
CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP NGÀNH XÃ HỘI HỌC
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN TỐT NGHIỆP
NGÀNH XÃ HỘI HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
NĂM 2015, 2016)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học

Hà Nội - 2017

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THU THANH

VAI TRÒ CỦA MẠNG LƯỚI XÃ HỘI VỚI VIỆC LÀM
CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP NGÀNH XÃ HỘI HỌC
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN TỐT NGHIỆP
NGÀNH XÃ HỘI HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
NĂM 2015, 2016)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa

Hà Nội - 2017

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa
học của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa.
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày
trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực.

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2017

Người cam đoan

Nguyễn Thị Thu Thanh

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa – Nguyên Chủ nhiệm
Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện
Luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy/Cô trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn đặc biệt là TS. Phạm Huy Cường; các Thầy/Cô tại Cơ quan Đại học Quốc
gia Hà Nội, tại Viện Trần Nhân Tông đã tạo điều kiện, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong công
việc và học tập để tôi có thể tập trung hoàn thành Luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn các bạn sinh viên tốt nghiệp ngành Xã hội học, Khoa Xã
hội học các năm 2015, 2016 (QH-2011 X, QH-2012 X), trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã dành thời gian, nhiệt tình chia sẻ, cung
cấp thông tin, góp sức cho cuộc nghiên cứu thuận lợi.
Nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được
nhiều sự đóng góp của Quý Thầy/Cô và bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2017

Học viên

Nguyễn Thị Thu Thanh

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ......................................................................... 3
3. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn .................................................................. 16
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu ....................................................... 17
5. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 17
6. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................. 18
7. Giả thuyết nghiên cứu ......................................................................................... 18
8. Khung phân tích .................................................................................................. 19
9. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 20
NỘI DUNG CHÍNH.................................................................................................... 22
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.............................. 22
1.1. Khái niệm công cụ ............................................................................................ 22
1.2. Các lý thuyết áp dụng ...................................................................................... 23
1.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .......................................................................... 28
Chương 2. THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ MẠNG LƯỚI XÃ HỘI CỦA SINH
VIÊN TỐT NGHIỆP NGÀNH XÃ HỘI HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI .................................. 31
2.1. Thực trạng việc làm của SVTN ....................................................................... 31
2.1.1. Tình hình chung về việc làm của SVTN ................................................... 31
2.1.2. Đặc điểm công việc của SVTN ................................................................... 36
2.2. Mạng lưới xã hội của SVTN ............................................................................ 37
2.2.1. Quan điểm của SVTN về vai trò của MLXH với việc làm sau tốt nghiệp 37
2.2.2. Mạng lưới xã hội của SVTN hiện nay ....................................................... 41
Chương 3. MẠNG LƯỚI XÃ HỘI VỚI VIỆC LÀM .............................................. 50
CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP NGÀNH XÃ HỘI HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ........... 50
3.1. Vai trò của MLXH đối với quá trình tìm kiếm việc làm của SVTN. .......... 50
3.1.1. MLXH với thông tin tìm kiếm việc làm của SVTN. .................................. 50
3.1.2. MLXH với thời gian tìm kiếm việc làm của SVTN ................................... 52
3.1.3. MLXH với chi phí tìm kiếm việc làm của SVTN ....................................... 54
3.2. MLXH đối với đặc điểm công việc của SVTN ............................................... 55
3.2.1. MLXH với môi trường làm việc của SVTN ............................................... 55
3.2.2. MLXH với khả năng áp dụng chuyên môn vào công việc của SVTN ..... 57
3.2.3. MLXH với thu nhập của SVTN ................................................................. 59
3.2.4. MLXH với sự phát triển công việc của SVTN........................................... 61
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................................. 65
1. Kết luận. ............................................................................................................... 65
2. Khuyến nghị ......................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 70
PHỤ LỤC..................................................................................................................... 75

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt
ĐHKHXH&NV

Tên đầy đủ
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

ĐHQGHN
MLXH
SVTN

Đại học Quốc gia Hà Nội
Mạng lưới xã hội
Sinh viên tốt nghiệp ngành Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, 2016 (QH2011X, QH-2012X)
Vốn xã hội
Xã hội học

VXH
XHH

DANH MỤC BẢNG
Tên bảng

Trang

Bảng 3.1: Thời gian SVTN tìm được việc làm sau tốt nghiệp

51

Bảng 3.2: Mạng lưới gia đình, họ hàng và khu vực làm việc của SVTN

55

Bảng 3.3: Sự phù hợp giữa trình độ của thanh niên có việc làm với yêu cầu công
việc

56

Bảng 3.4: Mạng lưới gia đình/họ hàng và thu nhập của SVTN

58

Bảng 3.5: Mạng lưới hội, nhóm bạn bè và thu nhập của SVTN

59

Bảng 3.6: Thanh niên có việc làm chia theo vị thế việc làm

62

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Quan điểm của SVTN về nguyên nhân tìm việc chưa thành công.
Biểu đồ 2.2: Sự phù hợp giữa chuyên môn được đào tạo với công việc hiện tại của
SVTN
Biểu đồ 2.3: Vốn xã hội của sinh viên khoa XHH, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
thông qua các hoạt động Đoàn - Hội
Biểu đồ 2.4: Cách thức thiết lập MLXH của SVTN
Biểu đồ 2.5: Sự giúp đỡ, hỗ trợ cho SVTN thông qua mạng lưới gia đình, họ
hàng
Biểu đồ 2.6: Sự giúp đỡ, hỗ trợ cho SVTN thông qua mạng lưới Thầy, Cô.

Trang
33
35
39
41
42
43

Biểu đồ 2.7: Sự giúp đỡ, hỗ trợ SVTN thông qua mạng lưới hội/nhóm, bạn bè,
đồng nghiệp

45

Biểu đồ 2.8: Các mối quan hệ xã hội mang lại thông tin cho SVTN trong tìm kiếm
việc làm

50

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với tư cách là một thành viên của xã hội loài người, để sinh tồn và phát triển
con người không thể tách rời bản thân với đồng loại, luôn gắn kết và nằm trong lòng
các mạng lưới xã hội. Việc hình thành tâm lý và phát triển nhân cách toàn diện là kết
quả của quá trình mà trong đó mỗi cá nhân không ngừng tương tác với nhau để thiết
lập các mối liên hệ xã hội tích cực, chất lượng. Theo Karl Marx bản chất con người
không phải là một cái gì đó trừu tượng, luôn luôn cố kết, ổn định, mang tính đơn lẻ,
riêng biệt mà: “Bản chất của con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [12, tr.99100]. Do vậy lẽ tất yếu, con người không ngừng nỗ lực xây dựng, duy trì và phát triển
MLXH cho bản thân và chính họ lại nằm trong sự chi phối, tác động của MLXH.
Với tầm quan trọng vốn có, MLXH trở thành chủ đề nghiên cứu của khoa học
liên ngành, điều đó giúp MLXH trở thành một mảnh đất khoa học có giá trị cho công
cuộc nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra những phát hiện mới. Có thể thấy rằng, XHH là
một trong những ngành có khối lượng nghiên cứu đồ sộ về cả số lượng lẫn chất lượng,
cả không gian và thời gian về chủ đề MLXH. Bằng nhiều cách diễn giải khác nhau
nhưng tựu trung cốt lõi của MLXH đều xoay quanh sự phức thể [16] của các mối quan
hệ xã hội, được xây dựng giữa người với người, và trong quá trình đó sự kết nối thông
tin giữa các cá nhân với nhau được thiết lập, tính hiệu quả của việc tiếp nhân thông tin
tuỳ theo bối cảnh tương tác nhất định.
Với sự kết nối thông tin thì MLXH ảnh hưởng đến mọi phương diện đời sống
vật chất và tinh thần của con người. Theo nhà xã hội học kinh điển Emile Durkheim
quá trình hình thành nên “đoàn kết cơ giới” và “đoàn kết hữu cơ” chính là do sự thiết
lập khác nhau căn bản về cấu trúc MLXH trong các bối cảnh lịch sử xã hội khác nhau.
Nhà xã hội học Mark Granovetter lại cho rằng mật độ và cường độ của các mối liên hệ
xã hội có tác dụng khác nhau đối với giao tiếp và sự hội nhập của xã hội thông qua các
mối liên hệ lỏng lẻo, hời hợt luôn có vai trò hoặc tạo được nhiều thuận lợi cho các cá
nhân theo đuổi mục đích của mình [49]. Thậm chí, MLXH còn kiến tạo nên các vấn đề
xã hội mang tầm vĩ mô khác khi nó còn đươc xem xét là một trong những nhân tố có
sức ảnh hưởng lớn đến quá trình di cư quốc tế [1].
Thị trường lao động là một trong những nơi thể hiện rõ sự tồn tại và sự tương
quan với các mối liên hệ xã hội. Một thập kỷ sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế
1

giới WTO, Việt Nam đã và đang chứng tỏ được khả năng của mình trong việc tận
dụng các thời cơ để phát triển năng động. Bên cạnh những kết quả đó, Việt Nam đang
phải tiếp tục vượt qua nhiều thách thức ngày càng trở nên gay gắt mà một trong số đó
là đáp ứng được nhu cầu việc làm trong xã hội và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng hơn [2] khi mà mỗi tân cử
nhân sau khi tốt nghiệp đều phải bước vào cuộc canh tranh khốc liệt để tìm kiếm việc
làm. Cuộc khủng hoảng việc làm toàn cầu đang diễn ra trên quy mô chưa từng có, tỉ lệ
thanh niên không có việc làm cao hơn gấp ba lần so với lao động lớn tuổi [2]. Trong
quá trình đó, mỗi cá nhân cần phải gạt bỏ tâm lý thụ động việc chờ người được thay
bằng tâm thế chủ động: sẵn sàng đối phó với nạn thất nghiệp [16] một mặt phải chứng
minh được năng lực học thuật vốn có của bản thân, mặt khác phải chủ động xây dựng
các mối liên hệ hỗ trợ cho quá trình kiếm việc làm.
Như vậy, việc làm từ một thuật ngữ của kinh tế học đã được nhìn nhận sang góc
độ của xã hội học khi MLXH trở thành một trong những kênh quan trọng để sinh viên
tốt nghiệp tìm kiếm cho bản thân một công việc phù hợp. Do vậy, hướng nghiên cứu
về nguồn lực lao động nói chung đặc biệt sinh viên tốt nghiệp - nhóm lực lượng lao
động đặc thù nói riêng là một chủ đề mang tính thời sự. Mặc dù nghiên cứu tìm hiểu
về vai trò của MLXH đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp là một hướng đi không
mới - đã nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu trước đó, nhưng hướng đi này vẫn
nguyên vẹn giá trị thực tiễn bởi thị trường lao động và các MLXH biến đổi liên tục,
mỗi giai đoạn khác nhau, nội hàm của MLXH lại có mối liên hệ khác nhau đến vấn đề
việc làm. Thêm vào đó, mặc dù các công trình nghiên cứu về thực trạng việc làm của
sinh viên tốt nghiệp khá phong phú, tuy nhiên nghiên cứu vai trò của MLXH đến quá
trình tìm kiếm việc làm và quá trình làm việc của sinh viên tốt nghiệp đặc biệt sinh
viên thuộc khối ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung và ngành XHH nói riêng
vẫn cần được quan tâm. Vì vậy, chủ đề nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp
thêm các nhận thức, cập nhật mới hơn những kết quả thực nghiệm về chủ đề này.
Với tất cả những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: Vai trò của mạng
lưới xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành Xã hội học (Nghiên cứu
trường hợp sinh viên tốt nghiệp ngành Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, 2016).

2

2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
MLXH và việc làm của sinh viên tốt nghiệp là một chủ đề thu hút được sự quan
tâm của nhiều học giả ngoài nước cũng như trong nước. Dưới đây là những công trình
nghiên cứu tiêu biểu:
2.1. Những nghiên cứu trong nước
2.1.1. Các công trình nghiên cứu về việc làm của sinh viên tốt nghiệp
Nhóm các công trình nghiên cứu về việc làm của sinh viên tốt nghiệp đã tạo
nên một bức tranh tổng thể về tình hình việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp - những
khó khăn, thách thức; những yếu tố, kỹ năng để góp phần giúp sinh viên tự tin gia
nhập thị trường lao động sau tốt nghiệp; những định hướng nghề nghiệp và giải pháp
góp phần nâng cao khả năng hội nhập của sinh viên sau tốt nghiệp.
Các cuộc điều tra lao động và việc làm hằng năm của Tổng cục thống kê và Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội đã cho thấy quy mô về việc làm của người lao động
và đặc biệt là quy mô và tỷ lệ thanh niên tham gia thị trường lao động. Vào năm 2009,
theo “Báo cáo kết quả điều tra lao động và việc làm toàn quốc giai đoạn 2004 - 2008”
của Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội [37] thì tỷ lệ thanh
niên tham gia thị trường lao động tăng đều trong 10 năm qua. Hằng năm có từ 1,2 - 1,6
triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp 2008, 2010,
2012 so với tỉ lệ lao động động cả nước tăng theo thời gian, cụ thể là 4,2%, 5,2%,
5,5%, tỷ lệ thanh niên thành thị thất nghiệp ở mức 9,17% cao hơn gấp 2 lần thanh niên
thất nghiệp ở nông thôn 4,25%. Đến 1/1/2013 thanh niên trong nhóm tuổi 15 - 24
chiếm 46,7% tổng số người thất nghiệp trong cả nước.
Thị trường việc làm tiếp tục thay đổi theo thời gian. Đến năm 2015 [36] số liệu
của Tổng cục Thống kê cho thấy Việt Nam có 53,984 triệu lao động, trong đó có 52,8
triệu người có việc làm và hơn 1 triệu người thất nghiệp. Lực lượng lao động thanh
niên (15 - 24 tuổi) hơn 8 triệu nguời chiếm 14,8% lao động cả nước, trong đó có 7,5
triệu thanh niên có việc làm, chiếm 14,1%. Tỷ trọng nữ thanh niên tham gia hoạt động
kinh tế đều thấp hơn nam thanh niên theo thành thị, nông thôn và 6 vùng kinh tế - xã
hội. Gần ¾ thanh niên có việc làm ở khu vực nông thôn. Số thanh niên thất nghiệp
chiếm 49,2% tổng số người thất nghiệp, cao hơn 5,4 lần so với tỷ lệ thất nghiệp của
những nguời từ 25 tuổi trở lên. Xu hướng chung của cả nước, tỷ lệ thất nghiệp của nữ
thanh niên cao hơn nam thanh niên là 7,3% so với 6,8%.
3

Nghiên cứu “Việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp” [21], tác giả Bùi Thị Lan
đã nêu rõ nghịch lý đang diễn ra, đó là việc sinh viên ra trường không có việc làm
nhưng các doanh nghiệp cũng thiếu lao động cả về số lượng và chất lượng. Theo đánh
giá của nhà tuyển dụng sau khi tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp đều có chung nhận xét:
một là, sinh viên ra trường chưa thể làm ngay được công việc chuyên môn; hai là, hầu
hết sinh viên không thể tự lên kế hoạch học tập để hoàn thiện bản thân trong công
việc; ba là, sinh viên thiếu hoặc chưa có kĩ năng mềm cần thiết phục vụ cho công việc
được giao. Và trước đây, các trường đại học, cao đẳng sư phạm đào tạo sát nhu cầu
thực tế của địa phương nên sinh viên ra trường mau chóng có việc làm. Hiện nay, các
trường sư phạm mở rộng chỉ tiêu tuyển sinh và đào tạo ra một lượng sinh viên lớn hơn
nhu cầu của xã hội, sau khi tốt nghiệp sinh viên phải tự xoay sở, cùng với đó một số
bạn trẻ với tâm lí “cùng sào mới vào sư phạm” tức là chỉ để được làm sinh viên, điều
đó làm chất lượng người thầy giảm sút. Trong nhiều năm qua, sinh viên ra trường
không có việc làm trái nghề nhiều nhưng với sinh viên sư phạm còn gặp khó khăn hơn.
Trên thực tế dù có bằng khá giỏi thì sinh viên sư phạm cũng chưa được nhiều doanh
nghiệp chào đón. Thêm vào đó là những vấn đề tiêu cực trong quá trình xin việc và thi
công chức hiện nay. Tác giả đã đưa ra kết quả khảo sát thực tế một số sinh viên sư
phạm sau tốt nghiệp: 62,16% sinh viên tốt nghiệp đang có việc làm; 37,84% chưa có
việc làm. Khó khăn của sinh viên gặp phải khi đi tìm việc chủ yếu là năng lực ngoại
ngữ, tin học và kỹ năng phỏng vấn. Hầu hết số người được khảo sát đều cho rằng để có
thể làm việc được không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải cần kiến thức xã
hội nói chung. Tác giả cũng đã đề xuất một số biện pháp giáo dục nâng cao cơ hội tìm
kiếm việc làm đúng chuyên ngành sau khi tốt nghiệp cho sinh viên.
Công trình nghiên cứu “Việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn - thực trạng và giải pháp” [33] tác giả Hà Thị
Ngọc Thịnh đã phân tích thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp theo khu vực
ngành kinh tế, thu nhập bình quân, sự phù hợp với chuyên ngành đào tạo, những
khó khăn trong quá trình tìm kiếm và sự ổn định của công việc hiện tại. Ngoài ra,
tác giả đã làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xin việc và xem các mối
quan hệ xã hội là một nhân tố ảnh hưởng, bên cạnh các nhân tố khác như kiến thức,
kỹ năng mềm, hoạt động làm thêm. Từ đó đưa ra các giải pháp giúp sinh viên tốt
nghiệp tìm kiếm việc làm.
4

Khi đề cập đến những nghiên cứu chuyên sâu về tình hình việc làm của sinh
viên tốt nghiệp tác giả Đặng Nguyên Anh với nghiên cứu: “Suy thoái kinh tế và những
thách thức đối với giải quyết việc làm của thanh niên hiện nay” [2] đã đề cập đến 4
nội dung cơ bản như sau: Thứ nhất, cơ sở lý luận về việc làm và giải quyết việc làm
của thanh niên hiện nay. Theo đó, tác giả đã phân tích một cách cụ thể về đặc điểm
thanh niên, việc làm và những yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm của thanh
niên cũng như ý nghĩa của việc giải quyết bài toán việc làm cho thanh niên hiện nay
khi có khoảng 50,4% thanh niên thất nghiệp trong độ tuổi 15 - 24. Thứ hai, tác giả đã
chứng minh sự suy thoái kinh tế và những tác động đến việc làm của thanh niên trên
thế giới và trong nước. Đáng chú ý, tác giả đã làm rõ tiền lương bất cập và thu nhập
sụt giảm. Thứ ba, tác giả chỉ ra những thánh thức việc làm hiện nay và chỉ ra làm thế
nào để giải quyết bài toán việc làm cho thanh niên. Cuối cùng, tác giả đưa ra phương
hướng và giải pháp việc làm cho thanh niên trong những năm tới. Công trình nghiên
cứu đã phản ánh được thực trạng về việc làm của thanh niên Việt Nam hiện nay, đồng
thời đề xuất các định hướng và giải pháp khả thi nhằm giải quyết hiện quả hơn việc
làm cho thanh niên, cung cấp lượng thông tin phong phú cho các nhà nghiên cứu, quản
lý, hoạch định chính sách.
Cùng chủ đề việc làm của sinh viên tốt nghiệp, tác giả Nguyễn Thị Kim Sáu
đưa ra những kết quả thú vị khác trong việc đi tìm các “Kỹ năng tìm việc làm sau tốt
nghiệp của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” [31]. Nghiên cứu
làm rõ thực trạng, mức độ biểu hiện và thực hiện các kỹ năng tìm việc làm sau tốt
nghiệp của sinh viên, cụ thể là các kỹ năng: lập kế hoạch, tìm kiếm thông tin, chuẩn bị
hồ sơ xin việc, kỹ năng phỏng vấn. Đồng thời, tác giả đưa ra các nguyên nhân chủ
quan, khách quan ảnh hưởng đến kỹ năng đó. Cuối cùng tác giả đề xuất các biện
pháp tâm lý - giáo dục, để giúp sinh viên phát triển kỹ năng, nâng cao hiệu quả quá
trình làm việc. Đây là cách tiếp cận mới về vấn đề việc làm của sinh viên tốt nghiệp
từ góc độ tâm lý học.
Cùng về chủ đề, tác giả Trần Kiều Quỳnh đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về
“Sự thích ứng đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội và
nhân văn” [30]. Sử dụng lý thuyết xã hội hoá cá nhân và sự lựa chọn hợp lý để phân
tích sự thích ứng với việc làm của sinh viên tốt nghiệp nghiên cứu đã làm rõ được sự
thích ứng của sinh viên với môi trường làm việc, nhưng khả năng ứng dụng kiến thức,
kỹ năng và phương pháp lại chưa tốt và loại hình công việc, thu nhập có tác động đáng
5

kể đối với sự thích ứng trong công việc.
Trong công trình nghiên cứu về “Định hướng chọn nghề và nơi làm việc sau tốt
nghiệp của sinh viên hiện nay” [32], tác giả Phạm Tất Thắng đã đánh giá vấn đề công
ăn việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp đại học là một bức xúc của xã hội hiện nay.
Nghiên cứu giúp người đọc, và nhất là các cơ quan chức năng liên quan hiểu được
nguyện vọng chọn nghề và nơi làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp, từ đó đưa ra
những dự báo khoa học, những kiến nghị và giải pháp về vấn đề việc làm, nơi làm việc
của sinh viên tốt nghiệp Đại học. Điểm nổi bật ở công trình này là việc xây dựng mối
quan hệ cung và cầu trong phân công lao động xã hội ở nước ta, tạo tiền đề cho các
nghiên cứu xã hội học về vấn đề việc làm của sinh viên tốt nghiệp sau này.
Luận văn thạc sĩ “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường
hiện nay” [15], tác giả Trần Thị Thu Hiền đã phân tích những định hướng nghề nghiệp
của sinh viên trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN sau khi ra trường; làm rõ quan điểm
của sinh viên về việc làm và ảnh hưởng của gia đình, nhà trường đến sinh viên; tìm
hiểu việc lựa chọn nơi làm việc và những định hướng cụ thể về công việc tương lai,
nhu cầu về thu nhập của sinh viên sau khi ra trường; đồng thời chỉ ra những nguyên
nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến xu thế chọn nghề của sinh viên; đưa ra một số khuyến
nghị: để nâng cao năng lực, trình độ cho sinh viên, đề xuất cần có chương trình học
với hệ thống giáo trình chuẩn, tăng cường hơn nữa việc học ngoại ngữ và tin học (là 2
yếu tố rất cần thiết khi đi xin việc); kết hợp lý thuyết và thực tiễn nhằm nâng cao hứng
thú học tập cho sinh viên; thực hiện triệt để phương thức đào tạo theo tín chỉ để
khuyến khích tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong dạy và học, và một số giải pháp
đối với sinh viên, gia đình và các tổ chức xã hội, giúp sinh viên định hướng nghề
nghiệp tốt hơn, phù hợp hơn với năng lực sở trường của họ.
Cũng về chủ đề việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp, trong một công trình
nghiên cứu khác “Từ việc làm ổn định đến ổn định việc làm: người tốt nghiệp Đại học
chủ động hơn trong hội nhập” [29], tác giả Trương An Quốc đã nghiên cứu vấn đề
người tốt nghiệp đại học tham gia thị trường lao động, khi đưa ra câu hỏi về việc làm
mong đợi tác giả ghi nhận rằng: phần lớn người tốt nghiệp đại học mong có được một
việc làm ổn định, đồng thời tác giả cũng đặt ra câu hỏi: những ai và bằng những cách
nào họ có được việc làm ổn định và mặt khác ổn định liệu có mang lại nội dung và ý
nghĩa như nhau ở những người được hỏi hay ngược lại, những yếu tố đó có thể biến
6

động ngay trong quan niệm của mỗi người? Bài viết phân tích hai quan niệm khác
nhau về việc làm: Thứ nhất, tác giả bàn về quan niệm việc làm ổn định: Là cách nhìn
xã hội có phần máy móc, bảo thủ nghĩa là tập trung chú ý vào sự ổn định của hệ thống
việc làm xã hội nhưng không ghi nhận biến đổi xã hội và đang diễn ra một cách
thường xuyên và liên tục trong các thành phần, trong phân hệ trong tổng thể của nó.
Thứ hai, trạng thái ổn định việc làm được hiểu là: những người theo đuổi quan điểm
này lại hết sức năng động và đa dạng, tuy nhiên, những hoạt động chủ yếu của họ vẫn
hướng tới mục tiêu chung được xác định rõ là nhằm để duy trì, cải thiện, điều chỉnh
việc làm và đảm bảo hiệu quả, chất lượng cao hơn cho công việc của mình.
Nghiên cứu “Hội nhập việc làm nghề nghiệp của người tốt nghiệp Đại học”
của tác giả Trương An Quốc [28] cho thấy tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học có việc
làm chủ yếu vẫn là trong khu vực nhà nước, sau đó là khu vực tư nhân và liên doanh
với nước ngoài, phân bố việc làm theo lĩnh vực kinh tế, ngành nghề, theo thời gian làm
việc hay theo dạng hợp đồng đã ký kết đều có sự liên quan qua lại với nhau một cách
chặt chẽ, đều rất đa dạng và tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố rất quan
trọng là: xuất thân gia đình. Tác giả chú trọng nhấn mạnh đến các mối liên hệ xã hội
mà gia đình có sẽ là một thuận lợi cho sinh viên trong quá trình tìm kiếm việc làm sau
tốt nghiệp.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã tái hiện được bức tranh khái quát về
tình hình việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp, phân tích những khó khăn, thách thức
mà họ phải đối mặt. Đồng thời cũng cung cấp các thông tin hữu ích về những yếu tố,
kỹ năng, những định hướng nghề nghiệp và giải pháp góp phần nâng cao khả năng hội
nhập thị trường lao động của sinh viên sau tốt nghiệp.
2.1.2. Các công trình nghiên cứu về vốn xã hội, mạng lưới xã hội với việc
làm của sinh viên tốt nghiệp
Phần tổng quan sẽ tóm tắt kết quả những nghiên cứu nổi bật về mối liên hệ giữa
vốn xã hội, mạng lưới xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp. Đầu tiên, phải kể
đến nghiên cứu “Vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội thông qua một số
nghiên cứu ở Việt Nam” của tác giả Lê Ngọc Hùng [17]. Nghiên cứu cho thấy trong
bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá hiện nay, mỗi sinh viên sau khi tốt nghiệp đều phải
bước vào cuộc canh tranh khốc liệt trong tìm kiếm việc làm. Trong quá trình đó, mỗi
cá nhân một mặt phải chứng minh được năng lực vốn có của bản thân, mặt khác phải
7

chủ động dựa trên các mối liên hệ xã hội để tìm kiếm việc làm. MLXH là một trong
những kênh quan trọng để các tân cử nhân tìm kiếm cho bản thân một công việc phù
hợp. Theo tác giả mạng lưới tìm kiếm việc làm của sinh viên thông qua mô hình
MLXH kiểu hỗn hợp là sự kết hợp mô hình kiểu truyền thống đặc trưng bởi các mối
quan hệ gia đình và người thân quen với mô hình kiểu hiện đại đặc trưng bởi mối quan
hệ chức năng của các cá nhân với cơ quan, tổ chức và thiết chế chính thức. Sinh viên
có ý thức trong việc phát triển vốn người tức là học tập để có tri thức, năng lực chuyên
môn nghề nghiệp đồng thời phát triển vốn xã hội thông qua việc tiếp xúc, trao đổi và
hợp tác với những cá nhân có vốn người cao. Bên cạnh đó, tác giả nêu một số kiểu
MLXH trong tìm kiếm việc làm các thành viên trong gia đình (61,4%) bao gồm bố mẹ,
anh em, bà con ruột thịt (13,9%); những người quen thân của gia đình (11,7%), các
bạn bè của cá nhân (5,4%) và những người khác (4%); những nhóm và tổ chức xã hội
mà họ có những mối liên hệ nhất định trong quá trình sống (3,5%) [14]. Tác giả nhấn
mạnh MLXH có vai trò trực tiếp làm cầu nối và hỗ trợ nhiều trong công cuộc tìm kiếm
việc làm. Nếu phân chia một cách rõ ràng thì có thể khái quát lại thành ba kiểu
MLXH: Kiểu truyền thống: các cá nhân tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ
của gia đình; kiểu hiện đại: các cá nhân tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ
với cơ quan, tổ chức của bản thân, hoặc thông qua các trung tâm trung gian như môi
giới để tìm kiếm việc làm; kiểu hỗn hợp là sự kết hợp cả truyền thống và hiện đại.
Trong bối cảnh hiện tại thì kiểu hỗn hợp chiếm ưu thế hơn hai kiểu còn lại [16].
Trong “Báo cáo việc làm của sinh viên tốt nghiệp 2012” Bộ Giáo dục và Đào
tạo [5] đã đưa ra được con số cụ thể về việc sử dụng các mối liên hệ xã hội để tìm
kiếm việc làm sau tốt nghiệp của sinh viên như sau: trong bảy cách thức tìm kiếm việc
làm của sinh viên tốt nghiệp, “bạn bè, người quen giới thiệu việc làm” được nhiều nhất
số sinh viên nêu ra, với tỉ lệ 23,5%. “nhà trường giới thiệu” cho sinh viên tìm được
việc làm chỉ được hơn 8,6%, tỉ lệ thấp nhất. Đứng ở vị trí thứ hai là “người trong gia
đình giới thiệu”: cách thức này được 21,0% sinh viên tốt nghiệp sử dụng để tìm được
việc làm. Đứng ở vị trí thứ ba là “quảng cáo việc làm” với 18,7% sinh viên sử dụng
cách thức này. Như vậy, trong quá trình tìm kiếm việc làm, các yếu tố quan hệ tình
cảm bạn bè, người quen, người thân trong gia đình vẫn đóng vai trò quan trọng hàng
đầu. Một điểm thú vị khác là kết quả điều tra về cách thức tìm kiếm việc làm của sinh
viên tốt nghiệp năm 2012 cũng phát hiện ra các kiểu MLXH hỗn hợp mà sinh viên đã
8

sử dụng để tìm kiếm việc làm 10 năm trước đây. Cuộc điều tra này phát hiện vai trò
quan trọng và nổi trội của những cơ quan chuyên nghiệp, hiện đại như “hội chợ việc
làm”. Có lẽ đây là những điều mới trong cách thức tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt
nghiệp khi vai trò của các yếu tố chuyên nghiệp, hiện đại đang nhanh chóng phát huy
tác dụng trong việc hỗ trợ sinh viên tốt nghiệp tìm kiếm việc làm. Thêm vào đó, báo
cáo cũng đã làm rõ được sự khác biệt giữa nam và nữ trong việc tiếp cận các cách thức
tìm kiếm việc làm: nam sinh viên tốt nghiệp khai thác các mối quan hệ qua bạn bè,
người quen và trung tâm giới thiệu việc làm tốt hơn nữ sinh viên.
Khác với các quan điểm trên, Vũ Thị Thu Hương tác giả của bài viết “MLXH
với vai trò tìm kiếm việc làm trong giới trẻ hiện nay” [18] lại có một có một nhận định
khác về mạng lưới xã hội. Theo tác giả mạng lưới xã hội không chỉ là mạng lưới từ
gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan v.v. mà còn là MLXH đến từ Internet: “MLXH
(social network) bao gồm nhiều mối quan hệ đôi. Mỗi người trong mạng lưới có liên
hệ với ít nhất 2 người khác nhưng không ai có liên hệ với tất cả những thành viên
khác”. Dựa trên định nghĩa này, Internet cũng được coi là 1 mạng xã hội”.
“Báo cáo kết quả điều tra thông tin cựu sinh viên K52, K53” của trường
ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN năm 2013 [9] trình bày các số liệu mô tả các nguồn hỗ trợ
sinh viên tốt nghiệp trong quá trình tìm kiếm việc làm. Chúng ta tiếp tục nhận thấy tầm
quan trọng của các mối quan hệ xã hội, ở đây là các quan hệ trong gia đình, với bạn bè
- đồng nghiệp và với trường đại học cùng thầy/ cô giáo. Theo đánh giá của sinh viên
tốt nghiệp, họ nhận được 64,7% sự hỗ trợ từ các mối quan hệ xã hội khác nhau để có
được công việc hiện tại. Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp thông qua các đơn vị môi giới việc
làm chỉ chiếm 1,2%; 5,3% sinh viên tốt nghiệp được các đơn vị sử dụng lao động chủ
động liên hệ; 35,8% đến ứng tuyển trực tiếp thông qua các nguồn thông tin khác nhau
về công việc và đơn vị tuyển dụng.
Bài viết “Mạng lưới quan hệ xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp” của
tác giả Phạm Huy Cường [7] đã phân tích kết quả khảo sát 1073 sinh viên tốt nghiệp
trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN năm 2013. Nghiên cứu đã mô tả cụ thể mối liên hệ
giữa mạng lưới quan hệ xã hội đến khía cạnh kinh tế và phi kinh tế trong kết quả tìm
kiếm việc làm của những sinh viên tốt nghiệp với tư cách là nhóm đặc thù trong thị
trường lao động. Nghiên cứu cũng cho thấy bên cạnh các phương pháp tìm kiếm việc
làm chính thức (qua các kênh quảng cáo, qua các đơn vị dịch vụ việc làm, ứng tuyển
9

trực tiếp), người lao động còn sử dụng các mối quan hệ xã hội (người thân, bạn bè)
như một kênh không chính thức hiệu quả. Các nghiên cứu của các học giả trong nước
và trên thế giới bên cạnh sự đồng thuận sử dụng mạng lưới quan hệ xã hội như là một
phương pháp tìm kiếm việc làm phổ biến còn có những tranh luận xoay quanh các tác
động cụ thể của cách thức tìm kiếm này đến từng khía cạnh của công việc.
Luận án Tiến sĩ “Vốn xã hội với tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt
nghiệp (nghiên cứu trường hợp cựu sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Phạm Huy Cường [8] là một nghiên
cứu công phu, bài bản, chất lượng về chủ đề này. Tác giả đã phân tích rõ vai trò của
vốn xã hội trong thị trường lao động, nó không chỉ đơn thuần là kênh kết nối giữa
người lao động và việc làm mà còn có ý nghĩa hai chiều từ đó gợi mở hướng nghiên
cứu về “sức mạnh của các liên kết yếu”. Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên tốt
nghiệp đã ý thức được vai trò của mạng lưới quan hệ xã hội đối với cơ hội nghề nghiệp
của mình. Trên cơ sở sự kế thừa các mối quan hệ trong gia đình, sinh viên tốt nghiệp
đã tạo dựng được mạng lưới quan hệ bên ngoài gia đình với nhóm bạn, thầy cô và các
thành viên cùng tham gia các tổ chức xã hội. MLXH của sinh viên tốt nghiệp cho phép
họ khai thác các nguồn lực trong quá trình tìm kiếm việc làm: nguồn lực thông tin,
nguồn lực tài chính, các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh các kênh tìm kiếm chính thức,
nhiều sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm nhờ nguồn thông tin và sự hỗ trợ từ các
thành viên trong mạng lưới quan hệ xã hội, đặc biệt là các mối quan hệ trong gia đình.
Quy mô khai thác các nguồn lực từ mạng lưới quan hệ xã hội trong tìm kiếm việc làm
có mối liên hệ với quy mô nguồn vốn xã hội và các yếu tố thuộc về vốn con người của
sinh viên tốt nghiệp. Vận dụng các mối quan hệ xã hội trong tìm kiếm việc làm có ảnh
hưởng đến thời gian tìm kiếm và các đặc điểm công việc mà sinh viên tốt nghiệp đạt
được. Đó là: giảm thời gian tìm kiếm, giảm mức thu nhập, gia tăng sự phù hợp giữa
công việc với chuyên môn được đào tạo, tập trung vào khu vực làm việc nhà nước và
mức độ ổn định công việc cao hơn.
Như vậy, nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của MLXH đối với việc làm của sinh
viên tốt nghiệp đã bước đầu được quan tâm nghiên cứu và còn nhiều khoảng trống để
khai phá, bổ sung những tri thức mới. Kết quả nghiên cứu của Luận văn này không chỉ
dừng lại ở việc bổ sung các kết quả thực nghiệm về vai trò mà MLXH trong quá trình
tìm kiếm việc làm mà còn xuyên suốt phát triển công việc của sinh viên tốt nghiệp.
10

2.2. Những nghiên cứu trên thế giới
2.2.1. Các công trình nghiên cứu về việc làm của sinh viên tốt nghiệp
Tại nhiều nước trên thế giới, tình hình việc làm của sinh viên ngành Khoa học xã
hội nhân văn được quan tâm và có nhiều nghiên cứu cập nhật. Theo báo cáo “Gradstats
employment and salary outcomes of recent higher education graduates” [45] cuả tổ
chức nghiên cứu nghề nghiệp sau tốt nghiệp của Úc1 về tình hình việc làm của cử nhân
ngành khoa học xã hội và nhân văn2 như sau: Trong số sinh viên tốt nghiệp cử nhân3
trong lĩnh vực nhân văn, 30,0% là nam giới và 69,9% là nữ. Độ tuổi trung bình của sinh
viên tốt nghiệp cử nhân trong lĩnh vực nhân văn là 22 tuổi. Nhìn chung, 51,2% sinh viên
tốt nghiệp cử nhân4 trong lĩnh vực nhân văn đã có sẵn việc làm toàn thời gian sau khi tốt
nghiệp với hơn 31,7% làm công việc toàn thời gian5, 10,5% làm công việc bán thời gian
hoặc việc làm không thường xuyên, và 5,8% không có việc làm toàn thời gian hoặc
không làm việc. Trung bình lương khởi điểm cho sinh viên cử nhân6 trong lĩnh vực nhân
văn là 419$ Úc.
Theo nghiên cứu được công bố bởi Tổ chức Prospects về việc làm sau tốt
nghiệp tại Vương Quốc Anh, năm 2013 - 2014 có khoảng 200.000 cử nhân tốt nghiệp,
sau 6 tháng có khoảng 76,6% sinh viên đã tìm được việc làm toàn thời gian, tăng so
với số lượng sinh viên tốt nghiệp có việc làm năm 2012 - 2013 là 75,6% trong đó kỹ
sư xây dựng có tỷ lệ việc làm cao nhất với 70%, thấp nhất là cử nhân Nghệ thuật thị
giác với 51,2% có việc làm. Tỷ lệ sinh viên ra trường bị thất nghiệp năm 2013, 2014 là
6,3%, sinh viên tốt nghiệp khoa học máy tính phải đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp cao
nhất là 11,4%, sinh viên tốt nghiệp khoa học về thể thao có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất
ở mức 4,3%. Đối với cử nhân XHH năm 2013 - 2014 tại Vương Quốc Anh có khoảng
62,0% đã tìm kiếm được việc làm. Sinh viên tốt nghiệp ngành XHH rơi vào top 10
ngành có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất lần lượt theo thứ tự là: Khoa học máy tính và Công
nghệ thông tin (11,4%), Khoa học về Truyền thông (9,7%), Kỹ sư Điện và Điện tử
(8,9%), Vật lý (8,2%), Sinh học (8%), Nghệ thuật thị giác (7,9%), Thiết kế (7,8%),
Kinh tế (7,7%), Toán học (7,7%), Xã hội học (7,6%) [46]. Như vậy, dù nằm trong top
những ngành có sinh viên tốt nghiệp có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất Vương Quốc Anh
1

Graduate Careers Australia
Humanities
3
Dưới 25 tuổi
4
Dưới 25 tuổi
5
Full-time
6
Dưới 25 tuổi
2

11

nhưng ngành Xã hội học vẫn đứng áp chót trong bảng nguy hiểm đó. Tương quan
chung thì tỉ lệ sinh viên thất nghiệp ngành XHH của Trường ĐHKHXH&NV,
ĐHQGHN cao hơn (11,1%) so với sinh viên tốt nghiệp ngành XHH ở Vương Quốc
Anh là 7,6%. Mặc dù tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có ngành XHH, trường
ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN có việc làm cao hơn, nhưng chưa thể khẳng định là cao
hơn so với sinh viên XHH tại Anh, mặc dù số liệu hiển thị lên là cao hơn vì có một số
lượng lớn sinh viên tốt nghiệp tại Anh chưa tham gia trả lời khảo sát.
Theo thống kê của Khoa XHH, Đại học Notre Dame, Hoa Kỳ, ước tính chung
sau khi tốt nghiệp có 48% sinh viên tìm được việc làm toàn thời gian, 28% đi học cao
học hoặc các chương trình chuyên nghiệp khác, 18,5% tham gia các chương trình dịch
vụ, như vậy chỉ 5,5% sinh viên ra trường thất nghiệp. Sinh viên tốt nghiệp chương
trình XHH của Notre Dame hiện đang làm việc trong nhiều lĩnh vực: quản lý kinh
doanh, tư vấn, quản trị doanh nghiệp, bảo hiểm, hành chính y khoa, chính trị, bất động
sản, đời sống tôn giáo, công tác xã hội, giảng dạy và giáo dục đại học [59].
2.2.2. Các công trình nghiên cứu về vốn xã hội, mạng lưới xã hội với việc làm
Vai trò của MLXH đối với việc làm là một chủ đề dành được sự quan tâm của
nhiều học giả nước ngoài từ nhiều thế kỷ trước. Đầu tiên phải kể đến cuốn sách
“Getting a job” tác giả Mark Granovetter [22] đã tập trung vào phân tích các luồng
thông tin làm cho quá trình di động nghề nghiệp được bảo đảm và trở nên phổ biến
như thế nào. Tác giả làm rõ đối tượng nào thì sử dụng phương tiện (kênh nào) để tìm
kiếm việc làm. Trong đó đối tượng chuyên gia, có kỹ thuật, làm quản lý sử dụng ba
phương tiện để kiếm tìm cơ hội việc làm: Các kênh chính thức (quảng cáo, qua các cơ
quan tuyển dụng, qua phỏng vấn được bảo lãnh bởi các trường đại học và các hiệp hội
nghề nghiệp). Kênh này thường có người trung gian giữa người lao động và người sử
dụng lao động, hay còn gọi là “môi giới việc làm”. Nghiên cứu đưa ra tỉ lệ có 18,8%
đối tượng tìm được việc làm thông qua các con đường chính thức. Các quan hệ cá
nhân là “tìm kiếm công việc thông qua quan hệ cá nhân xuất hiện để được biết đến như
một cái cớ hơn là một cuộc tìm kiếm công việc”. Trong mẫu nghiên cứu này có 56,0%
số người tìm kiếm việc làm qua các quan hệ cá nhân. Ứng tuyển trực tiếp nghĩa là
người đó đến trực tiếp một công ty trong khi anh ta không hề có thông tin tuyển dụng
cụ thể nào. Nghiên cứu đưa ra tỉ lệ có 18,8% đối tượng tìm được việc làm thông qua
các con đường ứng cử trực tiếp. Trong ba kênh tìm kiếm việc làm, đa số người trả lời
12

thích lựa chọn các mối quan hệ cá nhân bởi họ tin rằng những thông tin này có giá trị
hơn, có cảm giác rằng công viêc tốt hơn có được thông qua các quan hệ cá nhân.
Không phải ai cũng theo đuổi những việc làm thông qua quan hệ cá nhân bởi lẽ không
phải ai cũng có các mối quan hệ hữu ích. Trong chương 2 tác giả đã nêu ra các mối
liên hệ và và sự thuận lợi thông tin các mối liên hệ đó đem lại. Khả năng thay đổi nghề
nghiệp của một người tỉ lệ thuận với mối quan hệ với cá nhân trong lĩnh vực nghề
nghiệp khác. Đó là mối liên hệ đến từ từ gia đình hoặc công việc. So với những người
mới, rõ ràng những người làm việc có thâm niên có được nhiều sự tin tưởng hơn và
các quan hệ cá nhân cũng dày dặn hơn. Mối liên hệ thường đã từng hoặc là người sử
dụng lao động hoặc là người lao động trong công ty. Những người ở địa vị cao dường
như tương tác càng nhiều hơn do vậy họ sẽ có nhiều mối quan hệ hơn. Như vậy, ý
tưởng chủ đạo của Granovetter có thể tóm tắt thành ba giả thuyết: Thứ nhất, ông cho
rằng nhiều người tìm được công việc của mình thông qua các quan hệ xã hội chứ
không chỉ thông qua các kênh chính thức như ứng tuyển trực tiếp, thông qua văn
phòng hay qua các thông báo tuyển dụng. Thứ hai, theo Granovetter, ý nghĩa của các
MLXH là cho phép những người tìm kiếm việc làm tập hợp được những thông tin tốt
hơn về tính khả dụng của công ăn việc làm cũng như các đặc điểm của công việc. Điều
này tạo điều kiện thuận lợi cho phép người tìm việc có một sự lựa chọn công việc tốt
hơn, vì thế một công việc được tìm thấy thông qua mạng lưới là một kết quả của sự
phù hợp, đó là, mức thu nhập cao hơn và khiến bạn hài lòng hơn. Thứ ba, thông tin về
các thị trường lao động có thể được tạo ra tốt hơn thông qua các mối quan hệ yếu. Ưu
điểm của các mối quan hệ yếu trái ngược với các mối quan hệ mạnh/mật thiết nằm
trong thực tế rằng thông tin trong nhóm bạn bè thân, khép kín được tập hợp không cần
thiết và tương đồng và rằng có nhiều thông tin mới được sinh ra bởi các mạng lưới mà
thành viên của nó phân tán và không giống nhau.
Nghiên cứu “Social Networks and Labour Market Outcome: The NonMonetary Benefit of Social Capital, European Sociological Review” của 2 tác giả
Franze & Hangartner [44] cho thấy có 44,0% người lao động ở Hoa Kỳ và 34,0%
người lao động của Đức đã tìm thấy việc làm thông qua các mạng lưới xã hội. Sự lan
rộng của việc sử dụng các kênh tìm kiếm thông tin là kết quả của các cuộc đầu tư vào
các mạng lưới trong thị trường lao động.
Trong công trình nghiên cứu“The Effects of Cumulative Social Capital on Job
13

Outcomes of College” của tác giả Yadan Wang [55] đã làm rõ sự ảnh hưởng của vốn
xã hội đến việc làm của sinh viên. Mục đích của nghiên cứu cũng nhằm để hiểu vai trò
vốn xã hội đối với sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học. Đáng chú ý, công trình đã nghiên
cứu tác động tích lũy của vốn xã hội được hình thành trong những năm trung học và
đại học đồng thời kiểm tra mối quan hệ của nó với kết quả công việc. Nghiên cứu đã
xem xét các chính sách đầu tư lâu dài của quốc gia dành cho giáo dục để tìm hiểu sự
phát triển vốn của sinh viên diễn ra như thế nào trong quá trình học tập tại Đại học.
Hai yếu tố chính mà nghiên cứu đo lường để thấy được sự tác động của nó lên vốn xã
hội của sinh viên là gia đình và trường học. Từ nguồn vốn đó đã đưa ra một số giả
thuyết về kết quả của công việc sau khi ra trường. Và kết quả chứng minh rằng, vốn xã
hội có tác hiệu trực tiếp và tích cực đối với sinh viên tốt nghiệp trong tìm kiếm việc
làm và phát triển trong công việc sau đó.
Nghiên cứu “Job loss and Social Capital: The role of family, friends and wider
support networks” của 3 tác giả Karon Gush, Jame Scott, Heather Laurie [47] cho
thấy để tìm kiếm một công việc không chỉ đơn thuần ở vấn đề đối diện với thất nghiệp,
quá trình tìm kiếm việc làm phải đương đầu với các vấn đề liên quan như: làm thế nào
để quản lý được thu nhập, địa vị và sự phù hợp giữa các công việc được lựa chọn. Các
cuộc phỏng vấn định tính chuyên sau cho thấy rằng: gia đình, bạn bè và MLXH rộng
mở sẽ đóng vai trò quan trọng như cánh buồm căng gió ra khơi tìm kiếm và giữ các
công việc. Trong khảo sát cho thấy chiến lược tìm kiếm công việc được hướng theo
trên các kênh kết nối của gia đình, bạn bè và các MLXH rộng lớn khác; do đó vấn đề
đầu tư vào việc mở rộng kết nối xã hội để tìm kiếm việc làm đang xu hướng của
Vương Quốc Anh hiện đại.
Nghiên cứu “Social Network, Job Search Method and Reservation Wages:
Evidence for Germany” của Marco Caliendo, Ricarda Schmidl, Arne Uhlendorff

[48] nhấn mạnh rằng MLXH là một nguồn thông tin quan trọng trong thị trường lao
động khi nhiều người đã tìm kiếm các công việc thông qua bạn bè và các mối liên hệ
khác từ họ hàng của họ. Sử dụng dữ liệu điều tra mở rộng cho những người lao động
thất nghiệp mới đây ở Đức nghiên cứu đã phân tích ảnh hưởng của các mạng xã hội
đối với hành vi tìm kiếm việc làm của cá nhân thất nghiệp thông qua các kênh chính
thức và không chính thức. Kết quả cho thấy MLXH rộng hơn dẫn đến một sự gia tăng
mức lương. Nghiên cứu khằng định rằng các liên hệ xã hội tạo thành các nguồn thông
14


Xemtailieu.com không chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề bản quyền tài liệu được thành viên tự nguyện đăng tải lên.